Mãn Giác (1052-1096), một Thiền sư đời Lý. Ông chỉ để cho đời duy nhất một bài thơ - một bài kệ - làm trước lúc tịch, nhưng đấy lại là một bài thơ xuân, đan xen cảm hứng với triết luận.
Xuân ruổi trăm hoa rụng,
Xuân đến trăm hoa cười.
Trước mắt việc đi mãi,
Trên đầu già đến rồi.
Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua/ sân trước/ nở cành mai.
(Theo bản dịch Ngô Tất Tố)
Bốn câu đầu là thơ năm chữ, tượng trưng cho sự vận hành chậm rãi, trở đi trở lại của nhịp sinh học trong đời người. Đến câu thứ năm mở ra bảy chữ, liền một mạch không ngắt nhịp, như một lời tuyên chiến với sự tuần hoàn đều đặn ấy - nó đưa con người đến chỗ già lão. Và câu cuối ngắt làm ba nhịp, là một thông báo trang trọng, về cái nhân tố mới - sự hồi sinh của sức sống, sức trẻ ngay trong lòng cái già nua - đã và đang xuất hiện.
THƠ XUÂN TRẦN NHÂN TÔNG
Vua Trần Nhân Tông (1278-1320), người đã cùng vua cha Thánh Tông chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông và là người sáng lập thiền phái Trúc Lâm - cũng đồng thời là một nhà thơ với nhiều bài cảm tác về mùa xuân đầy tinh tế và sâu sắc.
Buổi sớm mùa xuân
Ngủ dậy tung song cửa
Nào hay xuân đã sang
Một đôi bươm bướm trắng
Gặp hoa, cánh vội vàng.
Nhà thơ bất ngờ trước cảnh xuân đến, càng bất ngờ thấy cái rộn rã của mùa xuân qua đôi bướm trắng chớp cánh bay đến với hoa. Tình kín đáo mà cảnh thì hồn nhiên. Thi tứ đã chớp được cái khoảnh khắc ấy. Còn đây là ý nghĩ khi đến vãn cảnh chùa Cổ Châu:
Đề chùa Cổ Châu
Số đời thật mờ mịt
Mắt giấu tình bên trong.
Cai quản cung ma chặt
Đất Phật xuân thong dong
Từ chùa nghĩ về xứ Phật. Cõi thiền vậy đấy, nhưng biết đâu, khi mùa xuân đến thì cái tình vẫn nhen nhóm. Muốn tu được thì không gì khác phải giữ sao cho không có đất của sự cám dỗ thì mùa xuân cửa Phật mới thật yên ổn. Chuyện Phật ư? Chuyện đời và cả chuyện răn mình nữa đấy chứ!
Trên hồ Động Thiên
Cảnh hồ Động Thiên nọ,
Hoa cỏ giảm mầu xuân
Thượng đế thương hiu quạnh
Tầng xanh chuông bỗng ngân
(Trần Lê Văn dịch)
Nhà vua thường hay quyến luyến với cái vẻ xuân, và lần nào người cũng nhận được những điều sâu kín từ trong những ngày xuân ấy. Người viết:
Xuân cảnh
Dương liễu hoa xuân điểu ngữ trì
Họa đường thiềm ảnh mộ vân phi
Khách lai bất vấn nhân gian sự,
Cộng ỷ lan can khán thúy vi!
Cảnh xuân
Khoan nhặt chim kêu hoa liễu dầy
Họa đường thềm dãi bóng mây bay
Chuyện đời khách đến không hề hỏi
Cùng tựa lan can ngắm cảnh ngoài.
Mùa xuân đẹp đến nỗi không muốn bàn đến chuyện thế sự nữa. Khách đành cùng chủ tựa lan can mà ngắm vẻ xanh thắm của mùa xuân.
Nhưng bài thơ hay nhất của Trần Nhân Tông về mùa xuân lại là bài Xuân nhật yết chiêu lăng:
Xuân nhật yết Chiêu lăng
Tì hổ thiên môn túc
Y quan thất phẩm thông
Bạch đầu quân sĩ tại
Vãng vãng thuyết Nguyên Phon
Ngày xuân thăm Chiêu lăng
Nghiêm trang nghìn cửa quân hùm,
Trăm quan bảy phẩm một vùng cân đai.
Bạc đầu, chàng lính nhắc hoài,
Chuyện Nguyên Phong cũ những ngày ruổi rong.
Huyền Quang (1251-1334): Tức cảnh ngày xuân (Xuân nhật tức sự) của Huyền Quang (1251-1334), một nhà thơ Thiền chính hiệu, một thi sĩ lớn khác đời Trần.
Lỏng tay thêu gấm gái yêu kiều,
Hoa rợp, oanh vàng lảnh lót kêu.
Bao nỗi thương xuân, thương biết mấy,
Là khi không nói chợt dừng thêu.
Nguyễn Trãi (1380-1442): Ở đầu thế kỷ XV có một đỉnh thơ cao vọi là Nguyễn Trãi (1380-1442). Ông cũng là người làm không ít bài thơ xuân. Ông có cái tâm hồn dạt dào của một người đa tình, ở tuổi xế chiều vẫn yêu một nữ sĩ trẻ trung là Nguyễn Thị Lộ. Cho nên trong thơ xuân của ông, có cái cảm hứng lãng mạn của một Lý Bạch muốn “cầm đuốc chơi đêm” - thắp đuốc lên mà chơi cho hết những giây phút cuối cùng trong cái đêm cuối cùng của chín mươi ngày xuân :
Tiếc xuân cầm đuốc mảng chơi đêm,
Những lệ (sợ) xuân qua tuổi tác thêm...
Cầm đuốc chơi đêm này khách nói,
Tiếng chuông chưa gióng ắt còn xuân.
Nhưng bài thơ xuân của ông đọng lâu trong tâm tưởng nhiều thế hệ lại vẫn là bài thơ mang mạch cảm hứng Thiền: bài Bến đò xuân đầu trại (Trại đầu xuân độ). Bài thơ chỉ có 4 câu, phác họa một không gian mơ hồ, ở đấy cỏ xanh lẫn lộn với khói biếc, giữa màn mưa nước sông như vỗ vào nền trời. Và trong cái khung cảnh đều đều, động mà rất tĩnh ấy, có một con thuyền gác đầu ngủ yên trên bãi cát:
Cỏ xuân đầu bến xanh như khói,
Thêm nữa mưa xuân nước vỗ trời.
Đồng nội vắng teo hành khách ít,
Thuyền kề bãi cát trọn ngày ngơi.
(Theo bản dịch của Phan Võ)
Nguyễn Du (1766-1820): Nguyễn Du cũng như mọi thi hào nổi tiếng khác, vẫn thường cảm xúc về mùa xuân. Một trong những bài thơ xuân đặc sắc của ông là bài Đêm xuân (Xuân dạ):
Đêm đen nào thấy ánh dương trong,
Hàng liễu âm thầm đứng trước song.
Ốm liệt giang hồ bao tháng trải,
Xuân về mưa gió suốt đêm ròng.
Lâu năm đất khách đèn chong lệ,
Ngàn dặm quê hương nguyệt dãi lòng.
Ngoài xóm Nam Đoài Long Thủy chảy,
Trôi hoài kim cổ một dòng không.
(Nguyễn Xuân Tảo dịch)
Cao Bá Quát (1808-1855): Cao là một con người suốt đời đi tìm lẽ sống, một người có ý thức về sự tự do tư tưởng của mình. Ông có một bài Đêm xuân đọc sách (Xuân dạ độc thư), tứ thơ thật lạ:
Khách nay chẳng thấy xuân xưa nữa,
Thổn thức xuân nay gặp khách xưa.
Nay hóa thành xưa nào mấy chốc,
Hư nhìn ra thực khỏi lầm chưa?
Bao phường danh lợi cơn mưa sáng,
Mấy bậc anh hùng đám bụi mờ.
Tục lụy cười mình chưa dứt được,
Gần đây sách vở quá say sưa.
(Nguyễn Văn Tú dịch)
Nguyễn Khuyến (1835-1909), một tài thơ kiệt xuất ở nửa cuối thế kỷ XIX. Ông cũng có nhiều bài thơ xuân. Bài thơ được nhớ rất nhiều là bài Chợ Đồng thật ra không phải là một bài thơ Thiền mà chủ yếu thuộc mạch thơ hồi cố.
Tháng Chạp hai mươi bốn chợ Đồng,
Năm nay chợ họp có đông không?
Trở trời mưa bụi còn hơi rét,
Nếm rượu tường đền được mấy ông?
Hàng quán người về nghe xáo xác,
Nợ nần năm hết hỏi lung tung.
Năm ba ngày nữa tin xuân đến,
Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng.
(Sưu tầm bài của Nguyễn Huệ Chi)
Vũ Đình Liên (1913-96)
Ông Đồ
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua.
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay.
Nhưng mỗi năm một vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu.
Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay.
Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
ĐOÀN VĂN CỪ - NHÀ THƠ CỦA MÙA XUÂN
(Phan Hoàng) - Cùng với thi sĩ đồng hương Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ đã viết nhiều bài thơ thành công về mùa xuân, lễ tết. Và nếu như Nguyễn Bính suốt đời thơ lang bạt kỳ hồ thì ngược lại, kẻ sĩ Đoàn Văn Cừ luôn ẩn cư nơi thôn dã của vùng đất văn hiến Nam Định “chôn nhau cắt rốn” vừa dạy học vừa làm thơ gần một thế kỷ qua, với ước muốn “Trong thơ góp một đường cày”...
Trên báo Ngày nay số xuân Kỷ Mão năm 1939 đăng bài thơ Chợ tết của Đoàn Văn Cừ với lời giới thiệu của tòa soạn: "Trong những lời đẹp một cách đơn giản và ý nhị, phiên chợ tết ở nhà quê hiện ra cùng với những hình ảnh ngộ nghĩnh, những dáng điệu kỳ thú dưới ngòi bút linh hoạt của ông Đoàn Văn Cừ. Đây không tả ngày tết, nhưng bao nhiêu nét vẽ rất đúng, rất tinh xảo cũng khiến ta tưởng tượng được quang cảnh ngày xuân ở nông thôn". Sau khi báo phát hành, Đoàn Văn Cừ còn nhận được thư của nhà văn Thạch Lam trong ban biên tập gởi động viên, cho rằng họ Đoàn đã tạo được cho mình “một lối thơ riêng, đặc biệt có nhiều màu sắc và tả cảnh".
Cũng bắt đầu từ đó, trên thi đàn Việt Nam chính thức xuất hiện một thi sĩ mà tên tuổi gắn liền với những bài thơ về mùa xuân ngày tết vừa mộc mạc vừa độc đáo không lẫn vào ai được. Nhà thơ Đoàn Văn Cừ cho biết: “Sau khi bài thơ đầu tiên Chợ tết được đăng, tôi có cảm nghĩ một bài thơ đẹp khi cất cánh khỏi bản thảo, có thể ví với một ánh sao, tia lửa vừa lóe sáng; một bông hoa nở, một cánh buồm lộng gió vượt sông ra đại dương; một bóng chim băng mình vào vũ trụ. Trong hoàn cảnh đó, tiếng lòng của người thi sĩ có thể bứt ra khỏi bản thân để đi tới một chân trời xa lạ, muôn bến ngàn phương. Nếu gặp mắt xanh, được cả thời và thế, thơ anh sẽ đọng trong trí nhớ độc giả, đứng lại mãi với thời gian và không gian, trở thành bất tử”.
Đoàn Văn Cừ sinh năm 1913 trên vùng đất Nam Định văn hiến, nơi sản sinh nhiều danh nhân như: Trần Hưng Đạo, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Trường Chinh, Nguyễn Văn Vịnh, Đinh Đức Thiện,... Nhà nghèo, sớm mồ côi cha mẹ, cậu bé họ Đoàn sống với bà nội. Cứ hễ đến tết, bà nội ngồi trong ổ rơm, mặc áo đỏ cho Đoàn Văn Cừ sang lễ tết bên nhà ngoại để thay người mẹ vắn số. Như sau này ông viết:
“Sáng hôm mồng một tết.
Đèn nến thấp xong rồi.
Bà tôi ngồi trong ổ
Mặc áo đỏ cho tôi
Ông tôi vừa thức dậy
Nằm ngó cổ trông ra
Trên ngọn cây đèn bóng
Trời lất phất mưa sa”
Đoàn Văn Cừ bước vào làng thơ với vốn kiến thức tự học là chính. Giống nhiều ngôi làng khác ở Bắc Bộ, làng Đô Quan cũng có nhiều đình, đền, chùa, miếu với nhiều lễ hội kỳ thú. Đó cũng là nguồn cảm hứng cho nhà thơ viết nên những bài thơ: Làng, Trăng hè, Ngồi đình, Tế thánh, Năm mới, Chợ làng vào xuân... Và không chỉ riêng làng Đô Quan mà Đoàn Văn Cừ còn được tắm mình trong lễ hội các làng lân cận như hội chùa Cổ Lễ, hội chùa Keo, hội chợ Yên, hội chợ Viềng... giúp “chất liệu” cho ông sáng tạo nên Chợ tết, Đám cưới mùa xuân, Đám hội...
“Trên bãi cỏ dưới trời xuân bát ngát
Một chị đương đu ngửa tít trên không,
Cụ Lý già ngừng lại ngửa đầu trông
Mắt hấp háy nhìn qua đôi mục kỉnh...”
Vâng, nhắc đến Đoàn Văn Cừ là người ta nghĩ đến thi sĩ của mùa xuân, của tết, của lễ hội. Điều gì đã giúp ông gắn bó và viết khá thành công với đề tài này? Nhà thơ thổ lộ: “Mùa xuân, ngày tết dễ gợi nhớ về cội nguồn dân tộc, làm thức dậy trong lòng ta những kỷ niệm, tình cảm thiêng liêng, sâu sắc, đằm thắm về gia đình, tổ quốc. Nhiều phong tục đẹp, sinh hoạt đẹp, cảnh sắc thiên nhiên đẹp diễn ra trong dịp này. Tôi sống trọn vẹn tuổi thơ, tuổi hoa niên ở nông thôn. Những cảm xúc, ấn tượng trữ tình dân dã, lành mạnh, thơm ngát hương đồng gió nội đã sớm quyến rũ tôi, đi vào tuổi vàng, tuổi thanh xuân đời tôi, máu thịt tôi, tâm hồn tôi; giúp tôi sau này, khi hồn thơ đã chín, viết nên những bài thơ, những bức tranh quê thơ mộng ngày xuân, ngày tết”.
Cùng với đền đài, lễ hội, thi ca, làng Đô Quan ruột thịt còn là nơi lưu dấu một tình bạn đẹp đẽ thời thanh xuân của Đoàn Văn Cừ với Nguyễn Văn Vịnh. Họ Nguyễn cũng mồ côi cha, được người mẹ nghèo tần tảo cố gắng nuôi ăn học, đặt nhiều hi vọng vào đứa con duy nhất của mình. Hai chàng trai mồ côi cùng làng, học giỏi, có chí hướng đã kết thân với nhau. “Những hôm tối đến nhà anh chơi, gặp bữa thì ăn, nhiều tối không về, ngủ lại, hai đứa ôm nhau nằm trong ổ rơm, nói chuyện tới khuya. Không nằm thì tung chiếu ra, thắp đèn, chụm đầu ngồi đọc, viết, sửa thơ cho nhau. Bài thơ Trăng hè ngày ấy, viết được đoạn đầu, tôi đã toan bỏ. Anh đọc thấy được, khuyên tôi nên viết tiếp. Sau này báo Ngày nay in, Hoài Thanh và Hoài Chân chọn đưa vào thi nhân Việt Nam”- Đoàn Văn Cừ nhớ lại. Kỷ vật tình bạn đẹp đẽ mà họ Đoàn còn giữ tới nay là bức thư Nguyễn Văn Vịnh gởi cho ông năm 1941 trên đường phiêu bạt xa quê vào Nam. Bức thư viết dưới dạng văn vần, có nhiều câu rất đẹp:
“Làm sao hai đứa chúng mình,
Yêu nhau như những kẻ si tình yêu nhau”.
Hoặc:
“Cái gì như thể dây tơ,
Buộc người thơ với người thơ dặm ngàn,
Tôi xa, anh ở lại làng,
Liệu mà tô thắm nhuộm vàng cho quê”.
Điều mong mỏi của Nguyễn Văn Vịnh đã trở thành hiện thực. Không chỉ người bạn thân Đoàn Văn Cừ đã “tô thắm nhuộm vàng” cho quê bằng tài năng thi ca, mà ngay cả chính Nguyễn Văn Vịnh trên đường phiêu bạt vào Nam kiếm sống và tìm đường cứu nước, ông đã trở thành một tướng lĩnh tài ba, từng giữ trọng trách chính ủy Khu 8, rồi sau này là thứ trưởng Bộ Quốc phòng, chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất trung ương. Một người bạn mà thi sĩ họ Đoàn luôn lấy làm tự hào.
Giống như Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, Anh Thơ,... Đoàn Văn Cừ là một tên tuổi do Tự lực văn đoàn phát hiện từ phong trào Thơ mới. Không chỉ bài thơ đầu tiên Chợ tết, mà cả những bài thơ thành công nhất trong sự nghiệp Đoàn Văn Cừ cũng được đăng tải trên diễn đàn của nhóm văn học lừng lẫy này. Nhìn nhận về Tự lực văn đoàn, bậc lão thành nói: “Tự lực văn đoàn đã để lại cho gia tài văn học nhiều tác phẩm có giá trị, xứng đáng được gìn giữ, nghiên cứu, khai thác, làm giàu tiếng nói Việt Nam, ngôn ngữ văn chương Việt Nam. Nhiều nhà văn, nhà thơ yêu nước chống Pháp, chống Mỹ, bước đầu đi vào nghệ thuật, có mặt trên văn đàn, được khám phá, cổ vũ, giới thiệu bởi Tự lực văn đoàn. Trên bầu trời thơ Việt Nam, bên cạnh ngôi sao thi bá Thế Lữ - chủ hội thi đàn mới Việt Nam, là hai ngôi sao sáng chói Xuân Diệu và Huy Cận. Công bằng mà nói, công lao đầu phát hiện, khích lệ tài năng thơ mới của đất nước thuộc về hai tờ báo Phong hóa, Ngày nay và Nhà xuất bản Đời nay do Tự lực văn đoàn chủ trương”.
Hơn 60 năm cầm bút, Đoàn Văn Cừ đã in gần mười tập thơ, trong đó đáng chú ý là Thôn ca I & II, Dọc đường xuân, Đường về quê me và được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật đợt đầu tiên vào năm 2001. Giống như cuộc đời bình dị của mình, đối với thi ca ông chỉ có ước mơ khiêm tốn:
“Trong thơ góp một đường cày
Nước non gieo hạt mong ngày nở hoa”
Ông đã đi xa, nhưng ước mơ của thi sĩ ở ẩn thành Nam từ lâu đã thành sự thật. “Đường cày” của ông đã “nở hoa” trong tâm thức người yêu thơ, nhất là khi xuân về Tết đến.
Chợ Tết
Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi,
Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà tranh,
Trên con đường viền trắng mép đồi xanh,
Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết.
Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc;
Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon,
Vài cụ già chống gậy bước lom khom,
Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ.
Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ,
Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu,
Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau.
Sương trắng rỏ đầu cành như giọt sữa,
Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa,
Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh,
Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh.
Người mua bán ra vào đầy cổng chợ.
Con trâu đứng vờ rim hai mắt ngủ,
Để lắng nghe người khách nói bô bô.
Anh hàng tranh kĩu kịt quẩy đôi bồ,
Tìm đến chỗ đông người ngồi giở bán.
Một thầy khoá gò lưng trên cánh phản,
Tay mài nghiên hí hoáy viết thơ xuân.
Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm,
Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ.
Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ,
Nước thời gian gội tóc trắng phau phau.
Chú hoa man đầu chít chiếc khăn nâu,
Ngồi xếp lại đống vàng trên mặt chiếu.
Áo cụ lý bị người chen sấn kéo,
Khăn trên đầu đang chít cũng bung ra.
Lũ trẻ con mải ngắm bức tranh gà,
Quên cả chị bên đường đang đứng gọi.
Mấy cô gái ôm nhau cười rũ rượi,
Cạnh anh chàng bán pháo dưới cây đa.
Những mẹt cam đỏ chót tựa son pha.
Thúng gạo nếp đong đầy như núi tuyết,
Con gà trống mào thâm như cục tiết,
Một người mua cầm cẳng dốc lên xem.
Chợ tưng bừng như thế đến gần đêm,
Khi chuông tối bên chùa văng vẳng đánh,
Trên con đường đi các làng hẻo lánh,
Những người quê lũ lượt trở ra về.
Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê,
Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ.
Một số bài thơ Xuân khác:
Xuân ý
Hồ Dzếnh
Trời đẹp như trời mới tráng gương
Chim ca tiếng hát rộn ven đường
Có ai bên cửa ngồi hong tóc
Cho chảy lan thành một suối hương
Sắc biếc giao nhau, cành bắt cành
Nước trong, hồ ngợp thủy tinh xanh
Chim bay cành trĩu trong xuân ý
Em đợi chờ ai, khuất bức mành?
Giữa một giờ thiêng tình rất đẹp
Mắt buồn và rất... rất thanh thanh
Mày ai bán nguyệt, người ai nhỏ
Em ạ, yêu nhau chết cũng đành
Xuân về
Chế Lan Viên
Pháo đã nổ đưa xuân về vang động
Vườn đầy hoa ríu rít tiếng chim trong,
Cỏ non biếc dãi mình chờ nắng rụng
Bên lau già, theo gió uốn lưng cong.
Ðôi bướm lượn, cánh vương làn sương mỏng
Chập chờn bay đem phấn điểm muôn hoa.
Cất tiếng hát ngây thơ trên cỏ rộng
Ðàn chim khuyên đua nhặt ánh dương sa.
Hàng dừa cao say sưa ôm bóng ngả
Vài quả xanh khảm bạc hớ hênh phô,
Xoan vươn cành khều mặt trời rực rỡ
Bên bóng râm lơi lả nhẹ nhàng đu.
Ðây, tà áo chuối non bay phất phới
Phơi màu xanh lấp loáng dưới sương mai.
Ðây, pháo đỏ lập lòe trong nắng chói
Ðây, hoa đào mỉm cười miệng đón xuân tươi.
Xuân về
Nguyễn Bính
Ðã thấy xuân về với gió đông
Với trên màu má gái chưa chồng
Bên hiên hàng xóm, cô hàng xóm
Ngước mắt nhìn trời đôi mắt trong.
Từng đàn con trẻ chạy xum xoe
Mưa tạnh, trời quang, nắng mới hoe
Lá nõn, nhành non ai tráng bạc
Gió về từng trận gió bay đi
Thong thả nhân gian nghỉ việc đồng
Lúa thì con gái mượt như nhung
Ðầy vườn hoa bưởi hoa cau rụng
Ngào ngạt hương bay bướm vẽ vòng
Trên đường cát mịn một đôi cô
Yếm đỏ, khăn thâm, trảy hội chùa
Gậy trúc dắt bà già tóc bạc
Tay lần tràng hạt, niệm na mô.
Nụ cười xuân
Xuân Diệu
Giữa vườn ánh ỏi tiếng chim vui,
Thiếu nữ nhìn sương chói mặt trời.
Sao buổi đầu xuân êm ái thế!
Cánh hồng kết những nụ cười tươi.
Ánh sáng ôm trùm những ngọn cao,
Cây vàng rung nắng, lá xôn xao;
Gió thơm phơ phất bay vô ý
Đem dựng cành mai sát nhành đào.
Tóc liễu buông xanh quá mỹ miều
Bên màu hoa mới thắm như kêu;
Nỗi gì âu yếm qua không khí,
Như thoảng đưa mùi hương mến yêu.
Này lượt đầu tiên thiếu nữ nghe
Nhạc thầm lên tiếng hát say mê;
Mùa xuân chín ửng trên đôi má
Xui khiến lòng ai thấy nặng nề...
Thiếu nữ bâng khuâng đợi một người
Chưa từng hẹn đến, - giữa xuân tươi
Cùng chàng trai trẻ xa xôi ấy
Thiếu nữ làm duyên, đứng mỉm cười.
Xuân đầu tiên
Hàn Mặc Tử
Mai sáng mai, trời cao rộng quá
Gió căng hơi và nhạc lên mây,
Đôi lòng cũng ấm như xuân ấm,
Chỉ có ao xuân trắng trẻo thay !
Mai này thiên địa mới tin khôi,
Gió căng hơi và nhạc lên trời.
Chim khuyên hót tiếng đầu tiên hết,
Hoa lá hồ nghi sự lạ đời.
Trái cây bằng vỏ bằng gấm,
Còn mặt trời kia tợ khối vàng.
Có người trai mới in như nguyệt,
Gió căng hơi và nhạc lên ngàn.
Thuở ấy càn khôn mới dựng nên,
Mùa khô chưa gặp tốt tươi lên.
Người thơ phong vận như thơ ấy,
Nào đã ra đời ngọc biết tên.
Xuân gấm đầu tiên giữa cõi đời,
Mùi thơm ngây dại sóng con người.
Hãy hoan hô, lời cao như sấm,
-Vạn tuế,bay ơi ! Nắng rợp trời !
Hồ Xuân Hương
Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con
Mùa xuân Mậu Tuất 1958
Đông Hồ
Tóc đen mắt nhánh mực nhung huyền
Mặt trắng lòng thơm giấy phấm tiên
Phận mỏng chẳng vương theo cánh gió
Nghĩa dòng khảo kết chặt tơ duyên
Soi nhờ ánh tuyết nền thành lạnh.
Giấu kín doanh sơn nếp thánh hiền
Điệp tháng bốn phương mùa náo nức
Lần thơ xuân hóa bóng thuyền quyên.
Vũ Hoàng Chương
Thơ say 1940
Thuyền nhỏ sông lam yểu điệu về
Cỏ chen màu liễu biếc chân đê
Tình Xuân ai chở đầy khoang ấy
Hương sắc thanh bình ngập lối quê.
Nắng nhẹ mây hờ sương hơi hơi
Sương thưa nắng mỏng nhạc khoan lời
Dây đàn chầm chậm hôn lên phím
Muôn vạn cung Hồ lả lướt rơi.
Tháng giêng nguyệt quế
Hồ Thi Ca
Tháng giêng nguyệt quế trở về
Thơm hoa, thơm nụ, thơm mê mẩn người
Hương em đọng trắng nụ cười
Đêm giêng hai ngát khoảng trời lặng thinh
Tôi kề em đến vô hình
Em khai hoa để tội tình cho ai
Tháng giêng mưa nhớ mười hai
Giọt sương nguyệt quế trên vai thơm đầy
Tôi già bên gốc thơ ngây
Tháng giêng nguyệt quế trắng bay ngang đầu...
Thời gian
Từ Nguyên Thạch
Đứng đầu năm nhìn cuối năm
Thấy thời gian trên tóc mẹ màu trắng
Thời gian có hình nếp gấp
Chỗ đuôi mắt đã mờ
Ta dắt mẹ đi qua những câu thơ
Thấy thời gian héo dần năm ngón
Trái tim không còn bận rộn
Ta ngoảnh buồn
Bỗng bầu vú em
Thời gian đang nhú.
Ước vọng mùa xuân
Hoàng Cầm
Tôi đã im rồi thôi nói năng
Mưa chiều chưa đọng, nóng càng tăng
Mồ hôi sắp lụt phòng oi ả
Đôi vợ chồng son khó chỗ nằm
Gió bống bang em về cõi ấy
Tôi còn hứng chịu trận mưa chan
Ví chăng đến lúc tôi thành đá
Chắc vẫn thầm thương khóc hợp tan
Xin người chớ rót lôi phong vũ
Bão gấp trăm lần ngọn gió nam
Chỉ muốn hứng mưa vừa tỉ lệ
Nắng tung hoành xin bớt chói chang
Giả sử người em như lụa nõn
Tôi đi theo bất kể ôn hàn
Đến đâu cũng thấy em hiền dịu
Mây bốn phương trời xanh chứa chan
Khí tượng đầy tin nắng đẹp tươi
Bụi mưa nhàn nhã thả chim trời
Mong em ấm lạnh vừa phong độ
Anh cứ tầm xuân lấm tấm vui.
Từ Internet
Đọc & Chia sẻ
Lộc Vũ
* Nếu Quý vị muốn chia sẻ những gì đã đọc. Xin vui lòng gởi bài qua email lienhe@davibooks.vn, dòng subject ghi rõ: Doc & Chia se. Davibooks sẽ chọn đăng để chia sẻ cùng mọi người.
