Tìm kiếm tin tức

Những nhà thơ Nga

Thứ ba, 2:30, 20/08/2013

Veronika Tushnova và cái nhìn về Mùa Xuân

(Nguyên Hùng) - Veronika Tushnova sinh ngày 14 tháng 3 năm 1915 tại Kazan. Bố là giáo sư ngành vi sinh, về sau là viện sĩ Viện hàn lâm khoa học nông nghiệp Nga. Sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học, Veronika Tushnova cùng gia đình chuyển đến sống tại Leningrad. Theo nguyện vọng của cha, bà thi đỗ vào trường Đại học Y. Nhưng bà không tốt nghiệp ngành y dù đã học hết năm thứ 4. Bà chuyển sang học hội hoạ, và cũng chính vào thời gian này bà đã bị quyến rũ bởi thi ca.

Năm 1941 bà thi đỗ vào trường viết văn Goorki, nhưng cũng không nhập học. Chiến tranh nổ ra, bà bắt đầu làm việc tại một quân y viện. Trong trong điều kiện một mình nuôi con nhỏ và mẹ già đau yếu, bà vẫn tiếp tục làm thơ.

Năm 1945 nhà xuất bản “Cận vệ trẻ” đã cho xuất bản tuyển thơ của bà mang tên “Cuốn sách đầu tiên”. Năm 1950 bà công bố các trường ca “Đường đến Clukhor” và “Con đường”

Khiếu thơ của Veronika Tushnova càng được bộc lộ rõ trong thời kỳ cuối của sự nghiệp sáng tác qua những tuyển tập thơ “Ký ức con tim” (1958), “Hơi thở thứ hai” (1961) và “Một trăm giờ hạnh phúc” (1965). Tình yêu là đề tài xuyên suốt trong sự nghiệp thơ ca của bà, song hành với nó là những niềm vui và đau khổ, những mất mát và hy vọng, hiện tại và tương lai. Bà đã nói về tình yêu với tất cả tâm hồn, bà luôn kêu gọi mối quan hệ nhân ái giữa con người với con người. Thơ của bà đã rất nổi tiếng và được mọi người yêu mến.

Veronika Tushnova tự bạch rằng tất cả thơ của bà đều buồn, nhưng hoàn toàn không phải vì bà vốn là người ảm đạm như vậy trong cuộc sống, mà đơn giản bà chỉ làm thơ mỗi khi buồn lo và đau khổ. Ngược lại, khi không có gì phải buồn lo và đau khổ thì bà cười vui và chẳng viết gì cả.

Ngày 7 tháng Bảy năm 1965 sau một cơn bệnh nặng bà đã qua đời tại Moskva, lúc vừa tròn 50 tuổi.

Với độc giả Việt Nam, Veronika Tushnova là gương mặt khá xa lạ. Dưới đây chúng tôi xin trân trọng giới thiệu hai bài thơ của bà với phần dịch Nguyên Hùng, Việt Hùng và Thu Hương:

Bài thứ nhất

ВЕСНА

Туч взъерошенные перья.
Плотный воздух сыр и сер.
Снег, истыканный капелью,
по обочинам осел.

И упорный ветер с юга,
на реке дробящий льды,
входит медленно и туго
в прочерневшие сады.

Он охрипшей грудью дышит,
он проходит напролом,
по гремящей жестью крыше
тяжко хлопает крылом.

И кипит волна крутая
с каждой ночью тяжелей,
сок тягучий нагнетая
в сердцевины тополей.

Третьи сутки дует ветер,
третьи сутки стонут льды,
третьи сутки в целом свете
ни просвета, ни звезды.

Краю нет тоске несносной.
Третьи сутки в сердце мрак...
Может быть, и в жизни весны
наступают тоже так?

Mùa Xuân

Những đám mây bờm xờm
Khí trời toàn xám ướt
Bên đường từng đụn tuyết
Nhão dần thành nước trôi.

Gió nam thổi liên hồi
Trên sông băng vỡ vụn
Những khu vườn đen thẫm
Gió len vào nhọc nhằn.

Gió thở bằng ngực khàn
Mọi cản ngăn bất chấp
Gió mạnh phang cánh đập
Làm vang ầm mái tôn.

Sóng sủi bọt dựng bờm
Càng lúc càng hung dữ;
Những cây dương đầy ứ
Trong ruột dòng nhựa săn.

Gió hú ba ngày đêm
Ba ngày băng rầm rĩ
Ba ngày đêm cứ thế
Không mặt trời, trăng sao.

Ba ngày đêm u sầu
Nỗi buồn không bờ bến
Lẽ nào mùa Xuân đến
Trong cuộc đời vậy sao?

(Nguyên Hùng dịch)

Xuân đến

Mây
Sần sùi tướp tơ
Trời
xám xịt âm u
Tuyết
Tan dần thành giọt
Uớt nhão nhoẹt bên hè

Gió phương nam hùng hổ
Làm rạn mặt sông băng
Chầm chậm trườn từng bước
Vào khu vườn tối đen

Gió khàn giọng thở
Vượt mọi cản ngăn
Đập cánh ầm ầm
Mái tôn rung giật

Sóng sôi trào
Mỗi đêm một mạnh
Dồn ứ nhựa
Căng đầy thân dương

Ba ngày liền gió rít
Ba ngày liền băng rên
Ba ngày trời vần vũ
Không sao trời trong đêm

Ba ngày tối trong tim
Nỗi buồn không bờ bến
Lẽ nào xuân trong đời
Cũng nhọc nhằn khi đến?

(Thu Hương dịch)

Bài thứ hai:

Я давно спросить тебя хотела:
разве ты совсем уже забыл,
как любил мои глаза и тело,
сердце и слова мои любил...

Я тогда была твоей отрадой,
а теперь душа твоя пуста.
Так однажды с бронзового сада
облетает поутру листва.

Так снежинки - звездчатое чудо -
тонким паром улетают ввысь.
Я ищу, ищу тебя повсюду,
где же ты? откликнись, отзовись.

Как мне горько, странно, одиноко,
в темноту протянута рука.
Между нами пролегла широко
жизни многоводная река.

Но сильна надежда в человеке,
я ищу твой равнодушный взгляд.
Все таки мне верится, что реки
могут поворачивать назад.

Không đề

Em muốn hỏi anh tự rất lâu rồi
Chẳng lẽ anh đã quên đi tất thảy
Quên cả dáng em, trái tim, giọng nói
Quên đôi mắt này anh đã đắm say

Em từng là niềm vui suốt bấy tháng ngày
Sao không lấp nổi hồn anh giờ trống rỗng
Một sáng nọ giữa khu vườn gió lộng
Có chiếc lá vàng bứt cuống bay đi

Bông hoa tuyết kia - ngôi sao nhỏ diệu kỳ
Cũng tan nhẹ trong làn hơi mỏng mảnh
Em đi tìm anh, tìm anh mọi ngả
Ở nơi nào, trả lời nhé, anh yêu

Em cô đơn khi đêm tối lấn chiều
Chìa tay đỡ nỗi xót xa, cay đắng
Dòng sông lớn nước dâng tràn phẳng lặng
Chia chúng ta mỗi đứa mỗi bên

Nhưng hy vọng trong ta vô bờ bến
Em vẫn tìm - dù anh đã dửng dưng
Em vẫn tin, dù điều ấy chưa từng
Có thể khiến dòng sông quay trở lại.

(Việt Hùng dịch)

Không đề

Đã lâu em muốn hỏi anh
Lẽ nào anh đã lạnh lòng lãng quên
Rằng anh yêu cặp mắt em
Dáng hình, lời nói, trái tim nồng nàn...

Xưa em là nỗi hân hoan
Giờ lòng anh trống như ngàn mây bay
Một lần vườn ấy heo may
Lá kia rời cuống bay đầy không trung

Kìa bông tuyết nhỏ rưng rưng
Như sao mỏng mảnh tan dần trên cao
Em tìm em kiếm bạc đầu
Anh đâu, anh đáp một câu đi mà!

Lòng em cay đắng thẩn thờ
Chìa tay đêm vắng mơ bờ vai ai
Cách ngăn một dải sông dài
Chia tình hai ngả đời ai héo mòn

Nhưng lòng hy vọng vẫn còn
Em mong anh liếc nhìn em lạnh lùng
Dù sao em vẫn đinh ninh
Sông kia chảy ngược để mình bên nhau.

(Thu Hương dịch)

Bài thứ ba:

Знаешь ли ты,
что такое горе,
когда тугою петлей
на горле?
Когда на сердце
глыбою в тонну,
когда нельзя
ни слезы, ни стона?
Чтоб никто не увидел,
избави боже,
покрасневших глаз,
потускневшей кожи,
чтоб никто не заметил,
как я устала,
какая больная, старая
стала...
Знаешь ли ты,
что такое горе?
Его переплыть
все равно что море,
его перейти
все равно что пустыню,
а о нем говорят
словами пустыми,
говорят:
"Вы знаете, он ее бросил..."
А я без тебя
как лодка без весел,
как птица без крыльев,
как растенье баз корня...
Знаешь ли ты, что такое горе?
Я тебе не все еще рассказала, -
знаешь, как я хожу по вокзалам?
Как расписания изучаю?
Как поезда по ночам встречаю?
Как на каждом почтамте
молю я чуда:
хоть строки, хоть слова
оттуда... оттуда...

Không đề

Anh có biết chăng
Thế nào là đau khổ?
Khi dây thòng lọng
Xiết dần trên cổ?
Khi trong tim, đắng cay
Thành bờ tích tụ,
Khi chẳng thể nào
Rên rỉ, khóc than?
Cầu Trời đừng ai thấy
Cặp mắt đỏ hoe
Làn da mờ đục,
Đừng ai thấy em - mỏi mòn,
Đau yếu - già nua...
Anh có khi nào
Nếm mùi đau khổ hay chưa?

Vượt qua khổ đau
Không khác gì bơi qua biển cả
Trải qua khổ đau
Cũng sánh ngang lết qua hoang mạc mênh mông.
Thế nhưng người đời
nói về nó với ngôn từ sáo rỗng:
"Hắn bỏ ả rồi, biết không..."

Còn em không có anh
Như thuyền không mái chèo,
Như chim cụt cánh,
Như cỏ cây lìa gốc...
Biết chăng anh thế nào là đau khổ?
Em vẫn còn chưa kể hết anh nghe,-
Anh đâu biết em đã thế nào
Khi lang thang qua những nhà ga?
Khi thẫn thờ đọc giờ tàu đến,
Khi ngóng trông từng chuyến tàu trong đêm lạnh
Khi khấn thầm trước mỗi trạm thư
Như cầu mong phép mầu-
Từ nơi kia, từ nơi anh -
Dẫu chỉ một dòng thôi
Dẫu chỉ một lời thôi
Sẽ đến...

(Thu Hương dịch)

Bài thứ 4:

Мне говорят:
нету такой любви.
Мне говорят:
как все,
так и ты живи!
Больно многого хочешь,
нету людей таких.
Зря ты только морочишь
и себя и других!
Говорят: зря грустишь,
зря не ешь и не спишь,
не глупи!
Всё равно ведь уступишь,
так уж лучше сейчас
уступи!
...А она есть.
Есть.
Есть.
А она - здесь,
здесь,
здесь,
в сердце моём
тёплым живёт птенцом,
в жилах моих
жгучим течёт свинцом.
Это она - светом в моих глазах,
это она - солью в моих слезах,
зренье, слух мой,
грозная сила моя,
солнце моё,
горы мои, моря!
От забвенья - защита,
от лжи и неверья - броня...
Если её не будет,
не будет меня!
...А мне говорят:
нету такой любви.
Мне говорят:
как все,
так и ты живи!
А я никому души
не дам потушить.
А я и живу, как все
когда-нибудь
будут жить!

Tự bạch

Mọi người bảo tôi:
Làm gì có tình yêu như thế.
Họ nói,
Cậu hãy sống
Như tất cả!
Cậu mong muốn quá nhiều,
Làm gì có những người như vậy!
Đừng làm khổ mình và mọi người thêm nữa,
Buồn làm chi,
Sao phải mất ăn mất ngủ,
Đừng ngốc nữa!
Đằng nào cậu cũng phải chịu thôi,
Thà ngay bây giờ
Chịu đi còn hơn!

...Thế mà có tình yêu như thế!
Có mà.
Có đấy.
Nó ở đây này,
Ngay đây,
Ngay đây,
Trong trái tim tôi
Ấm áp như chú chim non
Trong huyết quản của tôi
Cuồn cuộn như đợt sóng dồn.
Tình yêu đấy - là ánh mắt tôi lấp lánh
Tình yêu đấy - là vị nước mắt tôi mằn mặn
Là mắt tôi nhìn, là tai tôi thấy,
Là sức tôi mạnh hơn hết thảy,
Là Mặt trời chói lọi,
Là núi cao, biển sâu!
Là thứ bảo vệ tôi khỏi sự lãng quên
Là cái bao bọc tôi khỏi gạt lừa dối trá.
Nếu không có tình yêu như thế
Thì tôi cũng chẳng còn!

...Thế mà mọi người
Cứ bảo rằng không có.
Bảo tôi:
Hãy sống như tất cả!

Tôi sẽ không để ai làm nguội lửa lòng mình.
Tôi đang sống một cuộc đời,
Như tất cả mọi người
đến một khi nào
Rồi cũng sẽ phải sống
Như tôi.

(Thu Hương dịch)

-----------------------

Marina Xvetaeva, người trẻ mãi

Cuộc đời và tác phẩm



M. Xvetaeva (1892-1941)

(Nguyên Hùng) - Marina Xvetaeva sinh ngày 26 tháng 9 năm 1892 trong một gia đình có truyền thống văn hóa. Bố là Ivan Vladimirovich, giáo sư Trường Đại học tổng hợp Moskva, nhà triết học đồng thời là nhà hoạt động nghệ thuật nổi tiếng. Mẹ từng là một nghệ sĩ dương cầm tài năng.
Xvetaeva đã trải qua thời thơ ấu của mình ở Moskva và Tarus. Năm 16 tuổi, một mình đến Paris để tham dự tại Sorbonn một khóa ngắn hạn về lịch sử văn học Pháp. Bắt đầu làm thơ từ lúc lên sáu (không chỉ bằng tiếng Nga mà còn cả bằng tiếng Pháp và tiếng Đức), được in thơ từ năm 16 tuổi, và hai năm sau cho xuất bản cuốn “Album hoàng hôn” ("Вечерний альбом") từng được các nhà phê bình đánh giá cao. Các tập thơ của Xvetaeva từ đó lần lượt theo nhau xuất hiện trước sự đón nhận nồng nhiệt của độc giả nhờ sự độc đáo có phần lập dị của một phong cách thơ. Có thể nói, thơ Xvetaeva không thuộc một trào lưu văn học nào.

Năm 1912 Marina Xvetaeva lập gia đình. Chồng bà là Xergey Efron, ông đồng thời cũng là người bạn gần gũi nhất của nhà thơ. Những năm chiến tranh thế giới thứ nhất, cách mạng và nội chiến là thời gian mà Xvettaeva giành hoàn toàn cho sáng tác. Bà sống ở Moskva và viết nhiều, nhưng hầu như không công bố tác phẩm của mình. Bà không tham gia Cách mạng tháng Mười vì không ủng hộ những người khởi nghĩa. Trong giới văn học, như trước đây bà vẫn giữ được tính biệt lập của mình.

Tháng 5 năm 1922 Xvetaeva quyết định cùng con gái ra nước ngoài để đến với chồng, người còn sống sót sau cuộc thanh trừng Đenikin và hiện là sinh viên Đại học tổng hợp Paris. Thời gian đầu hai mẹ con Xvetaeva sống ở Berlin, sau đó sang sống ở Praha, và vào tháng 11 năm 2005 thì cả gia đình lại chuyển đến Paris cùng với cậu con trai mới sinh. Cuộc sống của Xvetaeva lúc bấy giờ là cuộc sống của người lưu vong, vô cùng túng bấn và khốn khó.

Dẫu thế, sức sáng tạo của Xvetaeva không hề tỏ ra yếu ớt: năm 1923 xuất bản cuốn “Nghề thủ công” ("Ремесло") ở Berlin, cuốn sách nhận được sự đánh giá tích cực của giới phê bình. Năm 1924, trong thời gian ở Praha, bà viết “Trường ca núi đồi”, “Trường ca sự kết thúc” ("Поэма Горы", "Поэма Конца"). Năm 1926 hoàn thành trường ca “Cái bẫy chuột” ("Крысолов") và bắt tay viết các trường ca “Từ phía biển” ("С моря"), “Chiếc thang gác” ("Поэма Лестницы"), “Không khí” ("Поэма Воздуха") v.v…
Đa số trong số các tác phẩm trên vẫn chưa được công bố: nếu như thoạt tiên, những người lưu vong Nga tiếp nhận Xvetaeva như người của mình, thì rất nhanh sau đó bà đã trở nên đơn độc hoàn toàn vì tính độc lập và không chịu thỏa hiệp trong lập trường của mình. Bà không tham gia bất kỳ một xu hướng chính trị nào. Tập sách cuối cùng khi nhà thơ còn sống được xuất bản năm 1928 ở Paris là cuốn “Sau nước Nga” ("После России"), bao gồm các tác phẩm thơ được viết trong những năm 1922-1925.

Năm 1939 Xvetaeva được khôi phục quốc tịch Liên Xô và theo chồng trở về nước. Bà từng mơ ước, với sự trở về lần này bà sẽ là một “vị khách được mong đợi”. Nhưng điều đó đã không xảy ra: chồng và con gái của bà thì bị bắt giữ, em gái thì vào tù. Như trước đây, Xvetaeva lại phải sống cuộc đời đơn độc ở Moskva qua bao nhiêu biến cố. Chiến tranh xảy ra, bà cùng với con trai bị ném tới Elabuga. Trong tình cảnh cô đơn, không việc làm và tuyệt vọng, nữ thi sĩ đã tự kết liễu cuộc đời vào ngày 31 tháng 8 năm 1941.

Với độc giả Việt Nam

Có thể nói rằng, dù là nữ thi sĩ Nga tài năng nhưng Marina Xvetaeva đối với độc giả Việt Nam hãy còn khá xa lạ. Điều này cũng dễ hiểu: ngay ở Nga, mãi đến những năm gần đây thì danh phận của nữ nhà thơ mới được thừa nhận. Hơn thế, sau biến cố tháng 8 năm 1991, do nhiều lý do khác nhau, việc giới thiệu và cổ súy văn học Nga và Xô viết nói chung và thi ca Nga nói riêng ở nước ta, dường như đã trở nên rất hiếm hoi trên các các phương tiện thông tin đại chúng.

Mấy năm trước, nữ nhà thơ Ý Nhi đã cho in một chùm thơ về Marina Xvetaeva, trong đó có bài “Xvetaeva - Người yêu”, để bày tỏ sự cảm thông với nhà thơ đã khuất:

Chưa một lần gặp gỡ
giữa bao nhiêu hỗn tạp của đời
bà chỉ nghe vang lên một cái tên yêu dấu
và đôi môi run rẩy
thầm thì nhắc lại.

Chưa một lần gặp gỡ
hằng đêm
bà nguyện cầu sự bình yên cho người ấy

Chưa một lần gặp gỡ
khóc lặng lẽ dưới hàng cây xanh
và muốn áp khuôn mặt mình vào cỏ.

Chưa một lần gặp gỡ
bà khước từ mọi mối tình khác
như một người tuyệt vời hạnh phúc
như một kẻ hoàn toàn vô vọng.

Chưa một lần gặp gỡ
bà gắn mối tình của mình
cùng tình yêu cay đắng với nước Nga.

Bà đi đến cuộc trùng phùng
trên đôi chân rớm máu.

Về phần mình, chúng tôi xin được giới thiệu sau đây trích đoạn trong tác phẩm “Cho người yêu dấu” (“Любимому”) và một số bài thơ của Marina Xvetaeva với phần dịch ra tiếng Việt của các thành viên của NuocNga.net:

Bài thứ nhất

Любимому

Мне нравится, что Вы больны не мной,
Мне нравится, что я больна не Вами,
Что никогда тяжелый шар земной
Не уплывет под нашими ногами.

Мне нравится, что можно быть смешной -
Распущенной - и не играть словами,
И не краснеть удушливой волной,
Слегка соприкоснувшись рукавами.

Мне нравится еще, что Вы при мне
Спокойно обнимаете другую,
Не прочите мне в адовом огне
Гореть за то, что я не Вас целую.

Что имя нежное мое, мой милый, не
Упоминаете ни днем, ни ночью - всуе...
Что никогда в церковной тишине
Не пропоют над нами: Аллилуйя!

Спасибо Вам и сердцем и рукой,
За то, что Вы меня - не зная сами! -
Так любите: за мой ночной покой,
За редкость встреч закатными часами,

За наши не-гулянья под луной,
За солнце, не у нас над головами, -
За то, что Вы больны - увы! - не мной,
За то, что я больна - увы! - не Вами!

Bản dịch của Quỳnh Hương:

Anh đau lòng đâu có phải vì em,
Em cũng thế, và em thích thế,
Em cũng thích trái đất này quay mãi
Mà chẳng thể nào trôi mất dưới chân mình

Em cũng thích cứ đầu bù tóc rối
Thiếu chỉnh tề một chút cũng chẳng sao
Không nói khéo cũng chẳng cần đỏ mặt
Khi vô tình để tay áo chạm nhau

Em càng thích anh ôm hôn ai khác
Trước mặt em, không giữ ý, ngại ngần
Chính vì thế em cũng không phải chịu
Lửa thiêu địa ngục khi hôn kẻ khác anh

Anh dịu hiền, anh không cần phải nhắc
Tên em trong bề bộn lo toan...
Nhạc hôn lễ trước bàn thờ Chúa
Mỗi chúng ta tự nghe bên người khác của mình

Cảm ơn anh với tất cả tấm lòng
Dù vô tình vẫn yêu em hơn tất thảy
Cảm ơn anh khi màn đêm êm đềm chảy
Và những hẹn hò thưa thớt lúc hoàng hôn

Cảm ơn anh - bên em không đi dạo dưới trăng
Mặt trời cũng không sưởi chung hai đứa
Anh đau lòng, than ôi, nhưng chẳng vì em nữa
Em cũng vậy, than ôi, đau chẳng phải vì anh

Bản dịch của Lưu Hải Hà:

Em rất vui vì anh không yêu em
Em rất vui vì em không yêu anh
Vì chẳng bao giờ trái đất này nặng trĩu
Lại trôi đi dưới gót chúng mình

Em rất vui vì em có thể nực cười
Chẳng cần chơi chữ, và có thể lả lơi
Và nếu như tay áo ta chạm khẽ
Thì em chẳng cần đỏ mặt đến nghẹn lời

Em rất vui vì khi em có mặt
Anh điềm tĩnh ôm một người khác đẹp xinh
Đừng rủa em phải cháy trong địa ngục
Vì người em hôn chẳng phải là anh.

Cả ngày lẫn đêm chẳng bao giờ anh nhắc
Tên em dịu dàng – thật vô ích quá mà
Và chẳng bao giờ trong nhà thờ yên tĩnh
Người ta hát mừng chúng mình “alleluia”

Cám ơn anh, bằng cả trái tim trọn vẹn
Vì dẫu chẳng ngờ, nhưng anh thật yêu em:
Anh chẳng quấy rầy sự yên tĩnh mỗi đêm
Ta chẳng cùng nhau đón hoàng hôn mấy tối

Vì ta không cùng đi dạo dưới trăng thanh
Vì mặt trời chẳng chiếu sáng đôi mình
Vì – thật tiếc rằng – anh không yêu em
Vì – thật tiếc rằng – em không yêu anh.

Bài thứ hai:

ПОСЛЕДНЯЯ ВСТРЕЧА

О, я помню прощальные речи,
Их шептавшие помню уста.
"Только чистым даруются встречи.
Мы увидимся, будь же чиста".

Я учителю молча внимала.
Был он нежность и ласковость весь.
Он о "там" говорил, но как мало
Это "там" заменяло мне "здесь"!

Тишина посылается роком, --
Тем и вечны слова, что тихи.
Говорил он о самом глубоком,
Баратынского вспомнил стихи;

Говорил о игре отражений,
О лучах закатившихся звезд...
Я не помню его выражений,
Но улыбку я помню и жест.

Ни следа от былого недуга,
Не мучительно бремя креста.
Только чистые узрят друг друга, --
Мой любимый, я буду чиста!

Bản dịch của Quỳnh Hương:

Lần gặp cuối

Ôi, em vẫn nhớ những lời từ biệt
Và đôi môi anh đã thầm thì.
"Duyên hội ngộ chỉ cho người trong trắng
Hãy giữ mình, em nhé, anh đi".

Em lặng im nghe những lời anh dặn
Anh - hiện thân của tình cảm dịu dàng.
Anh nói "đằng kia" mà sao lạ
Đối với em nghe như vẫn "ở đây"!


Rồi tất cả lặng đi vì số phận, --
Lời nói thành vĩnh viễn, bởi là thơ.
Anh nói về những điều sâu sắc nhất
Nhớ những dòng tác phẩm của người xưa

Anh nói về trò chơi hình và bóng
Nói miên man về những ánh sao xa...
Em nghe mà chẳng nhớ lời anh nói,
Chỉ nhớ nụ cười và cánh tay đưa.

Không còn dấu mảy may cơn bệnh cũ,
Cũng không còn gánh nặng thập tự hoa.
Chỉ những người trắng trong mong gặp lại,--
Anh yêu ơi, em sẽ giữ mình mà!

Bản dịch của Lưu Hải Hà:

Cuộc gặp gỡ cuối cùng

Ôi tôi nhớ những lời ly biệt,
Và đôi môi đã thốt chúng ra.
“Người thanh sạch mới cùng nhau gặp lại
Hãy thanh sạch nghe em, và ta sẽ gặp ta”

Tôi im lặng lắng nghe lời thầy giáo
Bao dịu dàng, bao âu yếm là đây.
Anh nói về “nơi đó”, nhưng “nơi đó”
Chẳng chút thay được cho tôi “nơi đây”!

Sự yên lặng chắc là do số phận --
Lời vĩnh cửu vì lời lẽ lặng đi.
Anh ấy nói về những gì sâu sắc nhất,
Nhắc đến cả thơ của Baratưnsky.

Anh nói về trò đùa phản xạ
Về tia sáng của ngôi sao sắp tàn
Tôi không nhớ rõ những lời anh nói
Chỉ nhớ nụ cười và cử chỉ …

Không còn trĩu vai cây thập tự
Không còn dấu vết những cơn đau
"Anh yêu hỡi, em sẽ luôn thanh sạch!
Chỉ những người thanh sạch mới thấy nhau!”

Bài thứ ba:

ПОЦЕЛУЯ

-- "Какие маленькие зубки!
И заводная! В парике!"
Она смеясь прижала губки
К ее руке.

-- "Как хорошо уйти от гула!
Ты слышишь скрипку вдалеке?"
Она задумчиво прильнула
К его руке.

-- "Отдать всю душу, но кому бы?
Мы счастье строим -- на песке!"
Она в слезах прижала губы
К своей руке.

Bản dịch của Thu Hương:

Ba nụ hôn

"Răng nhỏ xíu thế này!
Dây cót, rồi tóc giả!" -
Cô bé cười xinh quá
Thơm tay hồng búp bê.

- Mình ra khỏi nơi ồn ã này đi
Anh có nghe tiếng đàn xa vọng lại?" -
Nàng thiếu nữ đăm chiêu e thẹn
Nép mình sát vai người yêu...

-Hiến dâng cả trái tim, nhưng cho ai cơ chứ!
Khéo lại như Dã Tràng, xây lâu đài trên bể!"
Cô gái trẻ nghẹn ngào
Cắn tay mình ngăn lệ...

Bản dịch của Quỳnh Hương:

Ba lần hôn

--"Ôi hàm răng nhỏ đẹp làm sao!
Có tóc giả! Lại được lên dây cót!"
Bé gái cười đặt đôi môi mềm mại
lên cánh tay êm.

--"Xa đám đông ồn ào dễ chịu biết bao nhiêu!
Anh có nghe tiếng vĩ cầm vang đâu đó?"
Thiếu nữ trầm ngâm lặng lẽ
Nép mình bên cánh tay người yêu.

-- "Dâng cả tâm hồn, nhưng biết cho ai?
Đàn bà chúng ta xây hạnh phúc nhầm trên cát!"
Để khỏi bật lên tiếng khóc
Thiếu phụ đưa tay khép chặt đôi môi.

Bài thứ tư:

РАЗНЫЕ ДЕТИ

Есть тихие дети. Дремать на плече
У ласковой мамы им сладко и днем.
Их слабые ручки не рвутся к свече, --
Они не играют с огнем.

Есть дети -- как искры: им пламя сродни.
Напрасно их учат: "Ведь жжется, не тронь!"
Они своенравны (ведь искры они!)
И смело хватают огонь.

Есть странные дети: в них дерзость и страх.
Крестом потихоньку себя осеня,
Подходят, не смеют, бледнеют в слезах
И плача бегут от огня.

Мой милый! Был слишком небрежен твой суд:
"Огня побоялась -- так гибни во мгле!"
Твои обвиненья мне сердце грызут
И душу пригнули к земле.

Есть странные дети: от страхов своих
Они погибают в туманные дни.
Им нету спасенья. Подумай о них
И слишком меня не вини!

Ты душу надолго пригнул мне к земле...
-Мой милый, был так беспощаден твой суд!-
Но все же я сердцем твоя -- и во мгле
"За несколько светлых минут!"

Bản dịch của Thu Hương:

Những đứa trẻ khác nhau

Có những đứa trẻ hiền hòa
Cả ban ngày cũng ngủ ngon bên gối mẹ
Chẳng khi nào vươn tay về ánh nến
Chúng không nghịch lửa bao giờ.

Có những đứa lại hiếu động vô cùng
Cứ tưởng như chính chúng là tia lủa
Hoài công khuyên: "Lửa nóng đấy, đừng sờ!"
Chúng bạo dạn vờn tay nghịch bỏng.

Lại có thứ trẻ lạ lùng: luôn luôn hãi sợ
Làm dấu thánh trong mỗi bước chân
Run rẩy, tái xanh tiến gần ngọn lủa
Rồi khóc òa chạy xa thật nhanh.

Cha thân yêu ơi, lời cha quá vô tình:
"Nếu sợ lửa, hãy chết trong bóng tối!"
Lời cha mắng làm tim con nhức nhối
Làm lòng con xấu hổ, đớn đau

Có những đứa trẻ lạ đời: chúng chết dần trong nỗi sợ của mình
Trong những ngày mây mù. Vô phương cứu chữa.
Nghĩ đến chúng mà xem cha ơi,
Và đừng kết tội con nặng nề như thế!

Cha làm con kinh sợ quá lâu
Cha thân yêu ơi, lời cha hà khắc quá
Nhưng dù sao con là con của cha
Trong bóng tôi cũng muốn mình thắp lửa!

Bản dịch của Quỳnh Hương:

Những đứa trẻ khác nhau

Có những đứa ngoan hiền. Suốt ngày mơ màng ngủ
Ngon giấc nồng trên vai mẹ yêu.
Tay yếu ớt chẳng đòi cây nến cháy
Chẳng thử trò nghịch lửa bao giờ.

Có những đứa -- như những tia lửa nhỏ:
Như lửa cháy bừng bừng - chúng nghịch chẳng sót gì.
Luôn can đảm thử đưa tay vào lửa
Mặc người lớn can ngăn: "Bỏng đấy, hãy tránh đi!"

Có những đứa lạ lùng: hiếu kỳ đầy sợ hãi
Lén làm dấu cầu xin che chở
Vẫn không dám lại gần và nhợt nhạt, tái xanh.
Chúng bỏ chạy cho xa mà nước mắt vòng quanh.

Người hỡi! Lời người không cân nhắc:
"Sợ lửa à? -- Chết trong bóng tối đi!"
Lời buộc tội làm tim tôi đau cắt
Và tâm hồn rơi xuống tận vực sâu.

Có những đứa lạ lùng: chúng chết vì nỗi sợ
Của chính mình trong những ngày mù sương.
Chẳng cứu chúng nổi đâu. Xin cảm thông
Và đừng buộc tội tôi nặng lời như thế

Hồn tôi người đạp xuống đất đen
- Người ơi, phán quyết sao nghiệt ngã.
Nhưng tôi thuộc về người với tất cả trái tim.
Trong bóng tối - ơn người cho vài phút sáng.

-------------------------------------

Vladimir Nabokov - GƯƠNG MẶT ĐỘC NHẤT VÔ NHỊ TRONG VĂN HỌC


Vladimir Nabokov (1899-1977)
(
Nguyên Hùng) - Trong lịch sử văn học thế kỷ 20, Vladimir Nabokov giữ vị trí độc nhất vô nhị, là tác giả viết giỏi đồng thời bằng hai thứ tiếng: Nga và Anh. Sinh ra ở nước Nga, ông luôn mang theo mình những hồi ức về quê hương, thể hiện chúng qua hàng chục tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau và xứng đáng trở thành một trong những gương mặt hàng đầu của nền văn học Nga. Đồng thời, ông cũng được coi là nhà kinh điển của nền văn xuôi Mỹ hiện đại, là người mà các nhà văn “bản xứ” như K.Wonnegut, J. Bart, T.Pinchon, T.Sazern tôn vinh là vị tiền bối gần gũi của mình. Với mảng tác phẩm được viết bằng Anh ngữ, dường như Nabokov là nhà văn được sinh ra ở bên kia bờ Đại Tây Dương chứ không phải là một người con của nước Nga.

Có thể nói rằng, Vladimir Nabokov đang giữ một giá trị sáng tạo kỷ lục; và điều đó chứng tỏ một điều rằng, “xuất xứ của nhà văn chỉ là điều thứ yếu, sự nghiệp sáng tạo của anh ta mới là tờ giấy thông hành đích thực”. Với những đóng góp to lớn của mình cho nền văn học thế giới, năm 1974, Vladimir Nabokov từng được đề cử xét tặng thưởng giải Nobel về văn chương cùng với Graham Greene và Saul Bellow.

Rời khỏi nước Nga

Nabokov sinh ra trong một gia đình luật sư có tư tưởng tự do, là con cháu của nhà quý tộc V.Đ.Nabokov. Ông nội của nhà văn, Đ.N.Nabokov, từng giữ chức bộ trưởng tư pháp dưới thời Aleksandr II. Mẹ ông, Elena Ivanovna, là con gái của nhà tỷ phú công nghiệp khai thác vàng Rukavishnikov. Tuổi thơ của nhà văn trôi qua ở Peterburg, nơi mà mỗi mùa hè gia đình ông đều đi đến vùng đất riêng của mình ở Batovo. Cạnh Batovo là lãnh địa Thiên chúa giáo rộng lớn và giàu có của người bác, ông V.I.Rukavishnikov, người sau đó đã để chúc thư truyền lại cho cháu mình, nhà văn tương lai. Nơi đây đã khắc sâu trong tâm khảm Nabokov suốt cả cuộc đời về sau. Ngay trước sự kiện Cách mạng tháng Mười Nabokov đã kịp tốt nghiệp trường kỹ thuật Tenishevsky, nơi anh đã đạt thành tích xuất sắc trong cả hai lĩnh vực học văn hóa và thể thao. Năm 1918, chàng thanh niên Nabokov cùng với gia đình sơ tán đến Krưm, sau đó một năm thì rời khỏi nước Nga. Gia đình Nabokov định cư ở Brlin, và V.Nabokov vào học trường Đại học tổng hợp Kembrizsky. Ra trường, Nabokov lập nghiệp tại Berlin trong vòng 15 năm (1922-1937). Sau đó số phận run rủi ông đến Pháp trong hai năm, rồi cùng vợ con đi Mỹ vào năm 1940, ngay trước khi những sư đoàn đầu tiên của phát-xít Đức tiến vào Paris. V.Nabokov ở lại Mỹ trong thời gian gần 20 năm, vừa dạy học vừa viết văn. Năm 1945, Nabokov nhận quốc tịch Mỹ. Tại đây ông đã tạo dựng tên tuổi trước hết với tư cách là nhà côn trùng học chuyên sưu tầm, nghiên cứu về bướm và đã phát triển thú đam mê từ thời thơ ấu này thành một trò giải trí chuyên nghiệp. Đây là một điểm khá thú vị trong sự nghiệp của Nabokov, và sinh thời đã từng có không ít ý kiến cho rằng, thú chơi bướm chẳng qua chỉ là một cách “đánh bóng tên tuổi”, “làm bộ làm tịch” của nhà văn.

Nước Nga trong Nabokov

Năm 1959 Nabokov trở về châu Âu và định cư tại Thụy Sỹ cho đến những ngày cuối đời. Dù ở đâu - Berlin, Paris hay Mỹ, V. Nabokov luôn chiếm được vị trí xứng đáng trong văn học. Nước Nga trong ông không giống nước Nga của Bunin, Kuprin, I.S.Smeliev, B. K.Zaitsev. Trong tác phẩm Nabokov không có các thành phố, các làng mạc được chỉ tên, không có những hình tượng nhân vật có thể gọi theo kiểu Nga, cũng không mảy may có sự miêu tả trực tiếp các thảm họa gây chấn động lịch sử dân tộc trong thế kỷ qua. Nước Nga của Nabokov – đó là bóng dáng của một thời thơ ấu hồn nhiên đã mất, đó là thời mà “mỗi lời khẩn cầu, một câu hỏi được ném lên trời thì lập tức sẽ nhận được câu trả lời đầy ngạc nhiên và quý báu”. Nabokov đã viết như thế trong “Massenka” (1926), cuốn tiểu thuyết đã mang đến cho tác giả sự nổi tiếng đầu tiên, và lối ẩn dụ này được ông tiếp tục với nhiều dạng văn phong khác nhau trong suốt sự nghiệp sáng tạo của nhà văn, cho tới bộ sách đồ sộ cuối cùng của mình bằng tiếng Nga là “Những bến bờ khác”.

Nước Nga của Nabokov – đó là một thứ ngôn ngữ riêng hoàn hảo, điều mà ông coi là thế mạnh chủ yếu của mình. Trong lời mở đầu cho tiểu thuyết “Những bến bờ khác”, Nabokov viết: “Năm 1940 tôi quyết định chuyển sang viết bằng tiếng Anh, và điều tai hại là ở chỗ, trước đó trong vòng hơn 15 năm trời tôi viết bằng tiếng Nga, từng để lại dấu ấn riêng lên các “công cụ và trợ thủ” của mình. Khi chuyển sang một ngôn ngữ khác, vô hình trung tôi phải từ bỏ thứ tiếng của Avvakum, Puskin, Tolstoy và các ấn phẩm Nga”. Cuối cùng, nước Nga của Nabokov – đó là nền văn học Nga kinh điển. Về đóng góp của Nabokov trong mảng văn học ngoài tiếng Nga, đã có ý kiến cho rằng, phương Tây chịu ơn ông vì các bản dịch ra tiếng Anh (và một số ra tiếng Pháp) các tác phẩm của Puskin, lermontov, Chiutchev.

Quan điểm sáng tạo của Nabokov

Hơn hết thảy, Nabokov căm ghét, căm ghét một cách sâu sắc điều mà ông gọi là “sự tầm thường” trong sáng tạo, khi đưa vào khái niệm này một nội dung rất rộng lớn.

Sự tầm thường – đó là sự xâm hại về mặt đạo đức, triết học, lịch sử đến các lằn ranh có chủ quyền của nghệ thuật. Nabokov đã công kích một cách thù địch những tác giả như Tomas Mann, Andre Malro, thậm chí cả Đostoevsky, và phủ nhận một cách miệt thị nhận định phổ biến về Gogol như là người lên án các tệ nạn xã hội, là người thương cảm “những thân phận bé nhỏ”. Sự tầm thường – đó cũng là đòi hỏi về tính dân tộc trong văn học. Như một họa sĩ, một nhà nghiên cứu văn học và triết học, một giáo sư đại học, Nabokov luôn trong tình trạng đấu tranh không ngừng với các truyền thống của nền phê bình ở nước Nga.

Cuối cùng, sự tầm thường – đó là các chế độ độc tài, được phản ánh một cách sinh động qua các tiểu thuyết: “Giấy mời đến pháp trường” (1938), “Những đứa con hoang” (nguyên bản tiếng Anh là «Bend Sinister»), các truyện ngắn “Hoàng đế” (1933), “Tiêu diệt cuồng bạo” (1936), “Hồ, đám mây, bể nước” (1937), kịch “Sự phát minh điệu Van-xơ” (1938) và trong một loạt tác phẩm khác.

Nabokov - nhà văn Mỹ

Các đề tài trung tâm và cơ sở mỹ học chính của V. Sirin (bút danh cho các tác phẩm bằng tiếng Nga của Nabokov) đã tìm được sự kế tục và phát triển trong giai đoạn sáng tạo bằng tiếng Anh của Nabokov.

Ngôn ngữ điêu luyện và độc đáo của Nabokov không chỉ là công cụ và trợ thủ, mà còn là nhân vật trong tất cả các cuốn sách của ông. Người ta đã từng so sánh Nabokov với Joseph Conrad, người cũng trở thành nhà kinh điển của văn học không bằng ngôn ngữ mẹ đẻ (Joseph Conrad là người Ba Lan), nhưng điều đó đã xúc phạm tác giả tiểu thuyết “Lolita”, vì thực tế thì Joseph Conrad có điều kiện tiếp xúc với tiếng Anh tốt hơn nhiều so với Nabokov, và nhà văn này cũng không hề bị chi phối bởi hệ thống của ngôn ngữ sla-vơ.

Về tác phẩm chính được viết bằng tiếng Anh của Nabokov, có thể kể: các tiểu thuyết “Cuộc sống thực của Sebastian Knight” (The Real Life of Sebastian Knight, 1941), “Những đứa con hoang” (Bend Sinister, 1944), “Ngọn lửa xanh xao” (1962), truyện hài Pnin (1957), nhiều tác phẩm hồi ký độc đáo (“Chứng cứ xác thực”, 1951, “Những bến bờ khác”, 1954, “Ơi tri giác, hãy lên tiếng”, 1966).

Theo cách diễn đạt của nhà nghiên cứu văn học Nga N.A. Anastasev (Н. А. Анастасьев), Nabokov là nhà văn của các nhà văn, và sự nghiệp sáng tạo của ông là văn học của văn học, là một thư viện lớn. Trên các trang sách của ông không ngừng vang lên tên tuổi của Shakespeare, Lev Tolstoy, Shiller và Kolridj, Edgar Po và Bodler, Dante và Gotorn, Shekhov và Rembo và hàng loạt các tên tuổi vĩ đại khác. Trong đó, Puskin giữ một vị trí đặc biệt, vì đối với Nabokov, Puskin là một tên tuổi mẫu mực, là nhà thơ vĩ đại, xứng đáng để ông bỏ ra cả chục năm trời dịch ra tiếng Anh trường ca “Evgheni Oneghin”, bản dịch từng gây náo động trên văn đàn và trong dư luận bạn đọc.

Nabokov và Thơ

Trong kho tàng văn học của Vladimir Nabokov, ngoài các tác phẩm văn xuôi bằng tiếng Nga và tiếng Anh, còn có một số lượng không nhỏ các tác phẩm thơ bằng tiếng Nga. Trọn cả cuộc đời sáng tạo sống xa tổ quốc, nhưng thơ Nabokov vẫn luôn đau đáu một tình yêu giành cho quê hương đất nước:

Ta không giận vẩn vơ
Không nguyền rủa cũng không van vỉ
Ta vẫn yêu Tổ quốc ta xưa cũ
Như cô nàng từng phụ tình ta.
(Gửi nước Nga - Quỳnh Hương dịch)

Vladimir Nabokov là gương mặt nổi tiếng trên văn đàn thế giới, nhưng do nhiều lý do khác nhau, nên hầu như chưa được độc giả Việt Nam biết đến. Để góp phần giúp bạn đọc có thêm một số thông tin về Nabokov, ngoài những điều khái quát trên đây, sau đây Tài Hoa Trẻ xin giới thiệu một số tác phẩm thơ của ông với các bản dịch của Tạ Phương, Nguyên Hùng, Thu Hương và Quỳnh Hương.

1. ЖУРАВЛИ

Шумела роща золотая,
ей море вторило вдали,
и всхлипывали, пролетая,
кочующие журавли

и в небе томном исчезали,
все тише, все нежней звеня.
Мне два последних рассказали,
что вспоминаешь ты меня...
24 октября 1918

1. Đàn sếu

Rừng thưa xào xạc lá vàng
Xa xa sóng biển rộn ràng ngân nga
Lưng trời đàn sếu bay qua
Tiếng kêu giã bạn thiết tha, cháy nồng

Bóng chim tan giữa thinh không
Lời yêu dần nhỏ, lắng trong tim này
Đôi chim sau rốt giãi bày:
Rằng em vẫn thế, hằng ngày nhớ anh.

(Nguyên Hùng dịch)

2.
Есть в одиночестве свобода,
и сладость — в вымыслах благих.
Звезду, снежинку, каплю меда
я заключаю в стих.

И, еженочно умирая,
я рад воскреснуть в должный час,
и новый день — росянка рая,
а прошлый день — алмаз.

2. Không đề 1

Tự do có trong cô đơn
Và ngọt ngào – trong mộng ước.
Giọt mật, ánh sao, bông tuyết
Tôi gom trong một câu thơ.

Và sau mỗi đêm hấp hối
Tôi mừng sớm mai sống lại.
Ngày mới - giọt sương thiên đường
Còn ngày qua - hạt kim cương.

(Tạ Phương dịch)

3. ВЬЮГА

Тень за тенью бежит - не догонит,
вдоль по стенке... Лежи, не ворчи.
Стонет ветер? И пусть себе стонет.
Иль тебе не тепло на печи?

Ночь лихая... Тоска избяная...
Что ж не спится? Иль ветра боюсь?
Это - Русь, а не вьюга степная!
Это корчится черная Русь!

Ах, как воет, как бьется - кликуша!
Коли можешь - пойди и спаси!
А тебе-то что? Полно, не слушай...
Обойдемся и так, без Руси!

Стонет ветер все тише и тише...
Да как взвизгнет! Ах, жутко в степи...
Завтра будут сугробы до крыши...
То-то вьюга! Да ну ее! Спи.

3. Bão tuyết

Bóng tối trên tường dồn bóng tối,
Hãy nằm yên, trằn trọc làm chi!
Gió rên rỉ thì thây kệ gió
Hay mi chưa đủ ấm bên lò?

Đêm tai ương... Nỗi nhớ căn lều nhỏ
Mi khó ngủ ư, hay sợ gió rồi?
Đâu phải là thảo nguyên bão tuyết,
Là nước Nga trăn trở lúc tối trời!

Nào rú rít, giật rung, gào thét!
Có sức thì ra cứu giúp đi!
Sao thế nữa? Đủ rồi, bưng tai lại...
Sẽ qua thôi, dù nước Nga chẳng bên mi!

Tiếng gió rên khe khẽ yếu dần
Rồi lại tru lên... Ôi, thảo nguyên đáng sợ!
Sáng mai ra, băng ngập dày kín cửa...
Bão tuyết cơ mà! Thôi kệ nó, ngủ đi!

(Thu Hương dịch)

4.
О чем я думаю? О падающих звездах...
Гляди, вон там одна, беззвучная, как дух,
алмазною стезей прорезывает воздух,
и вот уж путь ее -- потух...

Не спрашивай меня, куда звезда скатилась.
О, я тебя молю, безмолвствуй, не дыши!
Я чувствую -- она лучисто раздробилась
на глубине моей души.
26 августа 1918

4. Không đề 2

Tôi nghĩ gì ư? Về những sao băng
Em nhìn kìa, thêm một ngôi, như linh hồn lặng ngắt
Bay vút qua không gian vệt sáng kim cương
Đến tận cùng đường, và lụi tắt.

Đừng hỏi tôi, sao rơi nơi đâu
Tôi xin em, hãy lặng im và nín thở!
Tôi cảm thấy ngôi sao đang tan vỡ
Thành muôn tia trong sâu thẳm hồn mình.

(Tạ Phương dịch)

5. России

Не предаюсь пустому гневу,
не проклинаю, не молю;
как изменившую мне деву,
отчизну прежнюю люблю.

Но как я одинок, Россия!
Как далеко ты отошла!
А были дни ведь и другие:
ты сострадательной была.

Какою нежностью щемящей,
какою страстью молодой
звенел в светло-зеленой чаще
смех приближающийся твой!

Я целовал фиалки мая,--
глаза невинные твои,--
и лепестки, все понимая,
чуть искрились росой любви...

И потому, моя Россия,
не смею гневаться, грустить...
Я говорю: глаза такие
у грешницы не могут быть!
1921?

5. Gửi nước Nga

Ta không giận vẩn vơ
Không nguyền rủa cũng không van vỉ
Ta vẫn yêu Tổ quốc ta xưa cũ
Như cô nàng từng phụ tình ta.

Nhưng ta cô đơn, ôi nước Nga!
Giờ đây người đã xa ta quá!
Qua mất rồi những ngày ta vẫn nhớ:
Người với ta chung một niềm đau.

Tiếng người cười như vang vọng tới ta
Từ thẳm sâu cánh rừng Nga xanh mát!
Dịu dàng quá khiến tim ta đau thắt
Và tràn đầy đam mê trẻ trung.

Ta khẽ hôn đóa đồng thảo tháng năm,
Đôi mắt Nga thơ ngây trong vắt,-
Những cánh hoa dường như cũng hiểu,
Long lanh sương đáp lại tình ta...

Và vì thế, ơi nước Nga của ta,
Ta chẳng dám bao giờ buồn giận...
Ta luôn nói: Mắt trong veo đến vậy
Kẻ lỗi lầm chẳng có nổi đâu!

(Quỳnh Hương dịch)

 

Một số bản dịch khác:

1. ЖУРАВЛИ - Đàn sếu

Xào xạc cánh rừng vàng
Biển xa vang tiếng dội,
Đàn sếu nức nở bay
Tới miền cư trú mới.

Trên bầu trời mệt mỏi
Tiếng chim lịm tắt dần,
Hai con sếu sau chót
Nhủ: em còn nhớ anh.

(Tạ Phương dịch)

Rừng thưa lấp lánh vàng xào xạc
Phía xa kia biển hoà giọng hát cùng
Và nghẹn ngào kêu những tiếng não nùng
Bay ngang trời những con sếu bạc.


Dần mất dạng trên bầu trời mệt mỏi
Vệt sếu bay và tiếng sếu trong ngân
Hai con sếu rốt đàn kể cho anh biết
Ngày ngày em vẫn nhớ tới anh.

(Quỳnh Hương dịch)

Cánh rừng thưa xào xạc lá vàng,
Biển xa xăm hoà đồng tiếng hát.
Trên trời cao đàn sếu bay ngang,
Văng vẳng tiếng gọi đàn thê thiết.

Bóng chim khuất trong mây lững thững
Tiếng sếu ngân nhỏ bớt, dịu dần
Có hai con cuối đàn kể lại:
Nơi quê nhà em vẫn nhắc tới anh.

(Thu Hương dịch)

Cánh rừng vàng xào xạc
Biển xa vọng ngân nga
Những con sếu di trú
Thổn thức bay ngang qua

Xa mờ trên trời nhạt
Tiếng chúng dịu lắng dần
Hai con cuối đàn kể
Rằng em hằng nhớ anh ...

(Phan Chí Thắng dịch)

Rừng vàng khẽ rung xào xạc
Biển xa nhắc lại bồi hồi
Đàn sếu bay đi tránh rét
Tiếng kêu nức nở ngang trời

Tiếng sếu dịu dần rồi tắt
Trên bầu trời mệt thẫn thờ
Hai con cuối đàn kể chuyện
Nơi xa em nhớ ... bây giờ

(Lưu Hải Hà dịch)


Cánh rừng vàng xào xạc
Biển cũng hát rì rào
Đàn sếu bay mê mải
Tha thiết gọi bạn yêu

Bầu trời như thể mất
Đàn sếu và bài ca
Hai con cuối kể lại
Em vẫn thường nhớ anh !

(Minh Nguyệt dịch)

2. Không đề 1

Tự do có trong đơn côi,
Ngọt ngào có trong mộng đẹp.
Sao trời, tuyết bay, giọt mật
Tôi giam cả vào thơ.

Rồi hàng đêm sau mỗi lần hấp hối,
Lại sướng vui đón giờ khắc phục sinh,
Mỗi ngày mới như giọt sương tiên cảnh,
Mỗi ngày qua - là kim cương long lanh

(Thu Hương dịch)

Trong cô đơn luôn sẵn có tự do,
Trong mộng ảo - vị ngọt ngào mơ ước.
Ánh sao, giọt mật và bông tuyết
Tôi giam vào chỉ một câu thơ.

Và mỗi đêm là một lần hấp hối,
Tôi vui mừng mỗi rạng sáng hồi sinh.
Sương thiên đường lấp lánh ngày mới đến
Khi ngày qua - thành kim cương long lanh.

(Quỳnh Hương dịch)

3. ВЬЮГА – Bão tuyết

Trên tường chập chờn bóng tối
Nằm yên đi, thôi đừng có càu nhàu.
Gió thét gào? Ừ thì kệ gió.
Nằm bên lò sưởi chẳng ấm sao?

Đêm tai hoạ... Buồn chán trong nhà gỗ...
Sao khó ngủ thế này? Ta sợ gió hay sao?
Nước Nga đấy, đâu phải là bão tuyết!
Là nước Nga đen tối chuyển mình thôi!

Chà, tiếng rú gào, tiếng gió rít rợn người!
Nếu có thể - hãy đi ra mà cứu lấy!
Ta á? Đủ rồi, thôi đừng nghe xui dại...
Ta lo được cho mình, dù chẳng có nước Nga!

Tiếng gió gào như đang dần lặng đấy...
Lại đột ngột rít lên! Ôi đáng sợ thảo nguyên...
Rồi sáng ra chất chồng từng đống tuyết...
Đến tận mái nhà! Thôi mặc bão! Cứ ngủ ngon.

(Quỳnh Hương dịch)

Bóng đen trên tường đuổi nhau rối rít
Hãy nằm yên, mi trằn trọc mãi chi
Gió rền rĩ? Ừ thì mặc gió
Hay bên lò chưa đủ ấm sao, mi?

Đêm ương ngạnh... Mái lều tranh thổn thức...
Khó ngủ ư? Hay mi sợ gió gào?
Đây nước Nga, đâu phải thảo nguyên bão tuyết –
Nước Nga đêm đen đang vật vã, lộn nhào.

Tiếng gió rít, tiếng rú gào thảm thiết
Nếu mi có gan, có thể cứu - hãy ra!
Ồ sao thế? Đủ rồi, vậy đừng nghe nữa...
Không có nước Nga, ta vẫn vượt được mà.

Gió rên rỉ, ngày càng lắng dịu...
Lại tru lên... Ôi hoang dã thảo nguyên...
Ngày mai tuyết ngập mái nhà, từng đụn...
Bão tuyết mà! Thây kệ nó, hãy ngủ yên!

(Tạ Phương dịch)

4. Không đề 2

Tôi nghĩ về gì nhỉ? Về những vì sao rơi...
Nhìn kìa, thêm một ngôi, như linh hồn lặng lẽ
Cắt qua không gian một vết ánh kim cương,
Rồi tắt ngấm vĩnh viễn trong đêm trường...

Xin đừng hỏi nhé em, điểm đến của vì sao.
Van em đấy, hãy lặng im và tạm ngừng hơi thở!
Tôi thấy như vì sao đang vụn vỡ
Thành ngàn tia sáng nơi thẳm sâu của hồn tôi.

(Quỳnh Hương dịch)

Anh nghĩ gì ư? - Về những thoáng sao rơi...
Em thấy không, kia một ngôi, như linh hồn câm lặng
Vạch trời đêm ánh kim cương lấp lánh,
Rồi giữa không trung - tắt lặng, chẳng còn chi...

Đừng hỏi anh, sao bay đi đâu.
Van em đấy! Lặng yên, đừng thở nữa!
Anh cảm thấy sao kia đã vỡ
Thành muôn tia sáng rỡ trong sâu thẳm hồn anh.

(Thu Hương dịch)

5. России - Gửi nước Nga

Ta chẳng ngợp trong giận hờn vô nghĩa,
Rủa nguyền, van vỉ cũng không;
Ta vẫn yêu Tổ quốc mình sau trước,
Như yêu ai đã đổi dạ, thay lòng.

Nhưng, ơi nước Nga, ta cô độc quá chừng!
Người với ta giờ ngàn trùng cách trở!
Vậy mà từng có những ngày quá khứ:
Người cùng ta chia sẻ, bao dung!

Ta cảm nhận nỗi đau êm dịu
Niềm đam mê rất đỗi trẻ trung
Khi từ cánh rừng xanh tươi vọng lại
Tiếng Người cười tựa nhạc ngân rung.

Ta từng hôn đoá hoa đồng thảo tháng năm, -
Những con mắt Nga ngây thơ, trong trắng, -
Và những cánh hoa, chừng hiểu lòng ta,
Những giọt lệ-sương yêu lấp lánh…

Và vậy đó, ơi nước Nga của ta,
Ta đâu dám giận hờn, sầu tủi…
Ta biết rằng ánh mắt sáng trong kia
Chẳng thể có ở người lầm lỗi.

(Tạ Phương dịch)

Theo http://vnthuquan.net

Đọc & Chia sẻ
Lộc Vũ

* Nếu Quý vị muốn chia sẻ những gì đã đọc. Xin vui lòng gởi bài qua email lienhe@davibooks.vn, dòng subject ghi rõ: Doc & Chia se. Davibooks sẽ chọn đăng để chia sẻ cùng mọi người.

14112
Lượt xem: 1094
 

Tin cùng chuyên mục: "Đọc & Chia sẻ"