Nho Giáo Trung Quốc – Nguyễn Tôn Nhan

Giỏ hàng

 

Chia sẻ

Facebook Twitter Google Buzz Link hay
Tác giả: Nguyễn Tôn Nhan NXB: Văn hoá Thông tin Hình thức: Bìa Cứng
Giá gốc: 460.000 VNĐ
Giá bán: 391.000 VNĐ
Tiết kiệm: 69.000 VNĐ (-15%)

Nho, Phật, Đạo là ba tông giáo truyền thống cổ đại. Duy chỉ có Nho giáo lợi dụng kết hợp với chính trị để trở thành quốc giáo. Thuận theo quá trình phát triển của Nho giáo, đại thể sách này được chia làm các giai đoạn như sau :

1- Thời kỳ trước khi có Nho giáo = Trước thời Tần, Hán.

2- Thời kỳ chuẩn bị của Nho giáo = hai đời Hán (Đông Hán, Tây Hán).

3- Thời kỳ tam giáo = Ngụy Tấn – Tùy Đường.

4- Thời kỳ Nho giáo hình thành = Bắc Tống với Trương Tải và hai anh em Trình Hạo, Trình Di.

5- Thời kỳ Nho giáo hoàn thành = Nam Tống với Chu Hi.

6- Thời kỳ Nho giáo ngưng kết = Minh và Thanh.

Phân chia thời kỳ và bố cục của sách này, chúng tôi dựa vào công trình của Lý Thân, Trung Quốc Nho giáo sử, Thượng Hải nhân dân xuất bản xã 1999 và có bổ sung thêm tư liệu từ các nguồn khác, chủ yếu dựa vào bản thư mục tham khảo in ngay sau đây.

Ngoài bảng sách tham khảo này, trích văn sẽ có ghi xuất xứ ngay sau đó. Trong sách ghi niên đại theo lịch triều đế vương, muốn chuyển sang năm dương lịch, bạn đọc dễ dàng đối chiếu theo bảng “Kỷ nguyên giản dị lịch sử các triều đại Trung Quốc” in ở cuối sách. Chúng tôi dự định viết một phần giảng nghĩa các khái niệm triết học, nhưng vì sợ sách quá dầy nên ở từng danh từ thuật ngữ Nho giáo trong chính văn, chúng tôi sẽ giải thích ngay sau đó (hoặc trong ngoặc đơn tùy theo văn mạch cho phép).

- NGUYỄN TÔN NHAN -

=========

>> [ Kinh Phật ]

>> Tủ sách Phật Giáo

>> Sách Thầy Viên Minh

>> Phật Giáo Nguyên Thủy

>> Vật Phẩm Phật Giáo (New)

>> Sách Xưa

>> Sách Tuyển Chọn

Cảo thơm lần giở trước đèn

Nhiều sách cổ, quý hiếm, được tái tạo bảo tồn.

Sách của Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, Lê Mạnh Thát, Nghiêm Xuân Tú, Hoà Thượng Thích Minh Châu, Thiền sư Thích Nhất Hạnh,...

 
 

Sản phẩm liên quan

 

Mô tả sản phẩm

Ở Trung Quốc cổ đại và ngay trong văn hóa Việt Nam cổ đại, người ta hay nhắc chung tới ba tông giáo Nho, Phật, Đạo, nhưng ít ai biện biệt bản chất khác nhau của chúng. Từ thời xa xôi, trước cả đời Xuân Thu, ở Trung Quốc đã có tín ngưỡng tông giáo truyền thống, chỉ chưa có tên gọi cố định. Tên gọi Nho giáo xuất hiện sau này và dần dần được xác định trong bối cảnh văn hóa chung của dân tộc Trung Hoa.

Dân tộc Trung Hoa từ khi bắt đầu sinh sống ở lưu vực sông Hoàng hà và Trường giang đã vốn có tông giáo của riêng mình. Loại tông giáo này coi Thần bộ lạc và các anh hùng thị tộc là đối tượng sùng bái. Tương truyền Hoàng Đế là vị thần chế tạo ra các loại vật dụng như xe cộ, nhà cửa, quần áo và còn sáng tạo ra cả chữ viết nữa. Viêm Đế, Thần Nông phát minh ra y dược, công cụ nông nghiệp; Phục Hi phát minh ra nghề thuần hóa súc vật; Toại Nhân phát minh ra cách sử dụng lửa. Họ vừa là người lại vừa là thần. Đối tượng tín ngưỡng của dân tộc Trung Quốc cổ đại thường là lãnh tụ sau khi chết biến thành thần, được thị tộc ấy tế thờ, tạo nên dấu ấn của thị tộc, tông tộc của thị tộc. Đối tượng được tế lễ, tổ tiên được tế lễ cùng với niềm tin Thượng đế ở Trung Quốc cổ đại gắn kết, trộn lẫn vào nhau. Cùng với đất đai, hình thức quốc gia ngày càng hoàn bị, hình dáng của Thượng đế cũng theo đó mà ngày càng hoàn chỉnh.

Tế lễ tổ tiên và tế kính trời đất quyện chặt vào nhau trở thành một thể, cấu tạo nên trung tâm tín ngưỡng truyền thống của dân tộc Trung Hoa, có thể quy nạp vào câu mà Nho gia xưa hay nhắc tới : “kính trời, học theo tổ tiên” (kính thiên, pháp tổ 敬 天, 法 祖).

Khu vực sống cơ bản của dân tộc Trung Hoa là vùng lưu vực Trường giang, Hoàng hà. Do vì chính trị trong và ngoài, khu vực luôn luôn biến đổi theo thời đại, nên có lúc họ mở mang biên giới ra ngoài,có lúc lại rút vào ít nhiều nhưng phạm vi chung vẫn không ra khỏi hai khu vực lớn của Hoàng hà, Trường giang. Đây chính là căn cứ địa sinh tồn trong hơn năm ngàn năm nay của dân tộc Trung Hoa.

Từ đời Tần, Hán trở về sau, với trung tâm là hai địa khu lớn Hoàng hà, Trường giang, Trung Quốc đã trở thành một nước lớn trung ương tập quyền thống nhất nhiều dân tộc, quy mô thống nhất của một nước lớn như vậy được giữ vững trong hơn hai ngàn năm đến tận ngày nay. Do vì xã hội biến động, do vì văn hóa phát triển và sự giao lưu với nước ngoài, nước lớn nhiều dân tộc thống nhất như Trung Quốc cũng nhiều lần thay đổi về chính thể, về hình thức tổ chức, về tập đoàn lãnh đạo.

Lịch sử của Trung Quốc là lịch sử không bình yên. Mấy ngàn năm nay, vừa lo thù trong vừa lo giặc ngoài, chính quyền thay đổi liên tục, xã hội luôn luôn biến động, giữa các dân tộc với nhau có lúc hoà hợp, có lúc xung đột. Trong tình hình đại thể sơ lược như thế, từ triết học, văn học, sử học, cho đến tông giáo đều phải tự phát huy lãnh vực của mình để tạo thành tác dụng có ích trên thượng tầng kiến trúc.

Từ Tần, Hán cho đến khi chấm dứt chế độ phong kiến, các vương triều Trung Quốc đều nỗ lực tăng cường quản lý chính trị đại nhất thống, nỗ lực xây dựng trật tự xã hội hoàn thiện và hợp lý. Ngoài việc điều động mọi tiềm năng vật chất, chính trị, pháp luật, các vương triều còn phát huy tác dụng giáo hóa của triết học, tông giáo để phối hợp với chính trị bổ sung chỗ khiếm khuyết của hình luật. Chỉ có phối hợp hài hòa giữa pháp trị và giáo hóa mới có thể củng cố và hoàn thiện được một đất nước lớn rộng nhiều dân tộc.

Nho giáo là một tông giáo bản địa sản sinh ra đã vài ngàn năm trên vùng đất Trung Quốc. Từ Tần, Hán trở về trước, đã nổi lên trọng tâm tín ngưỡng “kính thiên, pháp tổ”. Từ Tần, Hán trở về sau, hình thức quốc gia càng hoàn bị, hình tượng Thượng đế trên trời chính là sự phản ảnh từ hình ảnh của quốc vương dưới đất. Thượng đế ngoài việc gieo họa, ban phúc còn giám sát và quyết định khuôn mẫu đời sống nội tâm của con người, đồng thời cũng thấu hiểu tới tận động cơ của hành vi con người. Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo đều đi từ những góc độ khác nhau để tạo dựng hệ thống lý luận hợp pháp Nho giáo và hợp lý trong một chế độ vương triều phong kiến nhất thống như thế.

Nhân dân Trung Quốc cũng tiếp nhận và ủng hộ một chế độ quốc gia nhất thống như thế. Ba tông giáo Phật, Lão, Nho đứng từ lập trường tông giáo riêng để luận chứng về tính hợp lý của mình. Dùng “tam cương”, “ngũ thường” trong lời nói, hành vi để thể hiện lẽ trời. Trong đó khẳng định lòng trung hiếu là bắt nguồn từ tính trời của nhân loại, bất trung, bất hiếu là hành vi phản bội tính trời, chẳng những không thể thành Phật, thành tiên, thành thánh hiền, mà còn chưa đủ tư cách để làm người nữa.

Nho giáo Trung Quốc còn một đặc điểm rất rõ là hợp nhất cao độ giữa chính trị và tông giáo thành một thể. Hoàng đế kiêm nhiệm chức giáo hoàng hoặc nói ngược lại, giáo hoàng kiêm nhiệm chức hoàng đế. Thần quyền và chính quyền dung hợp với nhau làm một.

Nho giáo là tông giáo đặc hữu của dân tộc Trung Hoa, hễ dân tộc nào đã sống trên vùng đất xưa cũ này, bao gồm từ tộc Hán cho đến các dân tộc thiểu số khác như Liêu, Kim, Nguyên, Tây Hạ và Thanh, vương triều thời đại nào cũng đều coi Nho giáo là quốc giáo và coi Khổng Tử là giáo chủ (đây là điều khi sống Khổng Tử không thể ngờ được, giống như Lão Tử không thể ngờ mình được Đạo giáo thờ làm giáo chủ).

Viết về Nho giáo Trung Quốc là công việc vừa khó vừa nguy hiểm, vì với trình độ một người hậu học như chúng tôi, việc sai lạc là điều chắc chắn không tránh khỏi. Trước đây hơn nửa thế kỷ, khi bậc túc Nho Trần Trọng Kim viết bộ “Nho giáo” cũng chỉ dám tự nhận “vẽ lấy cái bản đồ của Nho giáo” (Nho giáo, Trần Trọng Kim, bản Tân Việt in lần thứ ba, không đề năm) thì chúng tôi đâu có mơ ước cao hơn? Nhưng vì chút tấm lòng yêu Nho học, yêu cổ học, chúng tôi mạo muội soạn sách này, để đầu tiên là tự học, sau nữa may ra có giúp ích chút ít nhỏ nhoi nào đó cho học giới chăng?

Tất nhiên, trước khi chấp bút viết sách này, chúng tôi đã đọc kỹ lại bộ “Nho giáo” của Trần Trọng Kim là bộ đã “trấn sơn” từ bản in lần đầu năm 1930 đến nay. “Nho giáo” của Trần Trọng Kim tuy công phu là thế mà sau khi ra đời vẫn bị hai nhà Nho (gần như) cuối cùng của Việt Nam là Phan Khôi và Ngô Tất Tố chỉ trích trong nhiều bài dài (những bài phê bình của Phan Khôi sau được Trần Trọng Kim cho in lại trong phần “phụ lục” của “Nho giáo” những lần tái bản).

Sự thực, kiến giải về Nho giáo của Trần Trọng Kim, theo thiển ý, là kiến giải có phần đúng đắn hơn. Rất tiếc, Lệ Thần tiên sinh có khuynh hướng nghiêng về phần “học” hơn phần “giáo” (tông giáo và giáo hóa).

Trong sách này, để sát hợp với thuật từ “Nho giáo” được sử dụng ở đây, chúng tôi cố gắng tuân thủ theo nội hàm của ý nghĩa tông giáo và giáo hóa để đưa dẫn người đọc vào rừng Nho bao la vô tận.

Mơ ước vốn khó biến thành hiện thực, sai sót trong sách này, người viết xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và mong được chư quân tử chỉ chính.

Tại Ngu Cốc, Gia Định

Ngày tốt năm Giáp Thân, DL 2004

Hậu học

NGUYỄN TÔN NHAN

Thông tin thêm

=*=*=*=*=*=*=*=*=

Sách cũng có bán tại DAVIBOOKS - SÁCH ĐẤT VIỆT:

- A30/9 QL50, Bình Hưng, Bình Chánh, TP.HCM (Đối diện Điện Máy Xanh; cách bến xe Q8 150m hướng về phía đường Nguyễn Văn Linh)

- SĐT: 028 6265 2039

DAVIBOOKS đem đến cho Quý độc giả những bộ sách mới nhất, nhanh nhất, và chất lượng nhất.

Thông tin sản phẩm

Số trang
1616
Kích thước
16 x 24 cm
Lượt xem
383
Trọng lượng
2,30 kg

Nhận xét sản phẩm

Không tìm thấy nhận xét nào cho sản phẩm này
 

Viết nhận xét

Vui lòng đăng nhập để đăng nhận xét