Đời Sống Tôn Giáo Ở Việt Nam Từ Năm 1990 Đến Nay

Đời Sống Tôn Giáo Ở Việt Nam Từ Năm 1990 Đến Nay

Giỏ hàng

 

Chia sẻ

Facebook Twitter Google Buzz Link hay
Tác giả: Chu Văn Tuấn NXB: Khoa Học Xã Hội Hình thức: Bìa Mềm
Giá bán: 148.000 VNĐ

>> [ Kinh Phật ]

>> Tủ sách Phật Giáo

>> Sách Xưa

>> Tủ sách Triết học

>> Sách Thầy Viên Minh

>> Phật Giáo Nguyên Thủy

>> Vật Phẩm Phật Giáo (New)

Cảo thơm lần giở trước đèn

Nhiều sách cổ, quý hiếm, được tái tạo bảo tồn.

Sách của Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, Lê Mạnh Thát, Nghiêm Xuân Tú, Hoà Thượng Thích Minh Châu, Thiền sư Thích Nhất Hạnh,...

 
 

Sản phẩm liên quan

 

Mô tả sản phẩm

LỜI MỞ ĐẦU
 
Việt Nam là một quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng tôn giáo. Đến nay đã có 16 tôn giáo và 41 tổ chức tôn giáo thuộc 16 tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, bao gồm: Phật giáo, Công giáo, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Tin Lành, Islam giáo, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam, Đạo Tứ ân Hiếu nghĩa, Đạo Baha'i, Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật đường Nam tông Minh sư đạo, Minh lý đạo - Tam tông miếu, đạo Bàlamôn và Phật giáo Hiếu nghĩa Tà Lơn, Giáo hội các thánh hữu ngày sau của Chúa Jesu Kito (Giáo hội Mặc môn), Giáo hội Cơ đốc Phục Lâm. Tính đến năm 2021, cả nước có khoảng 26,5 triệu tín đồ, chiếm khoảng 27% dân số cá nước, khoảng 58 ngàn chức sắc và 148 ngàn chức việc của các tôn giáo.
 
Trong vài thập kỷ gần đây, tình hình tín ngưỡng, tôn giáo trên thế giới nói chung có những diễn biến phức tạp. Việt Nam là quốc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo, có tôn giáo du nhập từ bên ngoài vào, có tôn giáo nội sinh. Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập mạnh mẽ với khu vực và quốc tế, những diễn biến của tín ngưỡng, tôn giáo trên thế giới cũng ảnh hưởng đến tình hình tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Không những thế, ngay chính bản thân tôn giáo ở Việt Nam, cùng với những phát triển của đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa, cũng đang có những chuyển biến rõ rệt. Điều đó đang đặt ra những vấn đề lý luận, thực tiễn cần nghiên cứu đan riêng, công tác tôn giáo, công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực tôn giáo nói chung.
 
Nhìn lại chặng đường đổi mới toàn diện của Đảng ta, trong đó đổi mới trong lĩnh vực tôn giáo được đánh dấu bằng việc Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 24/NQ-TW, ngày 16 tháng 10 năm 1990, Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 24). Đây là bước ngoặt trong nhận thức của Đảng về tôn giáo và công tác tôn giáo, mở ra một giai đoạn đổi mới trong đời sống tôn giáo nói chung, công tác tôn giáo nói riêng. Chính xuất phát từ Nghị quyết 24/NQ-TW cũng như các Nghị quyết, văn bản của Đảng cụ thể hóa Nghị quyết 24 mà đời sống tôn giáo ở Việt Nam đã có những bước chuyển biến hết sức quan trọng, tạo nên diện mạo phong phú, đa dạng như hiện nay.
 
Đã hơn 30 năm kể từ khi Nghị quyết 24/NQ-TW được ban hành, đời sống tôn giáo ở Việt Nam đã có những chuyển biến lớn và đạt được nhiều thành tựu mang tính căn bản: quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người được đảm bảo; các tôn giáo, các tổ chức tôn giáo được tạo điều kiện hoạt động theo hiến chương, điều lệ, theo giáo lý, giáo luật, số lượng tín đồ các tôn giáo phát triển, cơ sở vật chất, cơ sở thờ tự không ngừng được sửa chữa, xây dựng; số lượng các tổ chức được công nhận về mặt tư cách pháp nhân ngày càng gia tăng, nhiều tổ chức tôn giáo được cấp phép sinh hoạt tôn giáo và hoạt động tôn giáo; nhiều tổ chức tôn giáo, cơ sở tôn giáo sau một thời gian không hoạt động nay được khôi phục trở lại; các tôn giáo tổ chức nhiều hoạt động thuần túy và hoạt động xã hội tạo sức ảnh hưởng lớn đến các lĩnh vực của đời sống xã hội; không chỉ gia tăng các hoạt động trong nước, các tôn giáo ở Việt Nam còn tăng cường giao lưu quốc tế, vươn ra nước ngoài; các tổ chức tôn giáo, tín đồ các tôn giáo vui mừng, phấn khởi tích cực tham gia đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Có một điều không thể không nói đến trong biến đổi của đời sống tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1990 đến nay, đó là sự biến đổi trong nhận thức, quan điểm của Đảng về tôn giáo, cũng như sự thay đổi trong các nghiên cứu tôn giáo học của giới nghiên cứu ở Việt Nam. Có thể nói, đời sống tôn giáo ở Việt Nam chưa bao giờ sôi nổi như hiện tại.
 
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu quan trọng, những chuyển biến tích cực, đời sống tôn giáo ở Việt Nam nói chung, công tác tôn giáo nói riêng vẫn còn có những hạn chế. Đó là xu hướng mê tín, mù quáng niềm tin; xu hướng thương mại hóa tôn giáo; xu hướng lợi dụng tôn giáo để trục lợi; xu hướng suy thoái đạo đức, lối sống của một bộ phận nhà tu hành; xu hướng chuyển đổi tôn giáo, xu hướng gia tăng các hiện tượng tôn giáo mới; xu hướng tôn giáo xâm nhập vào không gian công; xu hướng đa dạng hóa tôn giáo do có các tôn giáo mới từ bên ngoài xâm nhập. Bên cạnh đó, không thể không nói đến câu chuyện biến đổi của mối quan hệ tôn giáo - dân tộc; câu chuyện mâu thuẫn, xung đột có liên quan đến tôn giáo; câu chuyện lợi dụng tôn giáo để kích động ly khai, chia rẽ dân tộc.v.v... Đó là những vấn đề nổi bật trong đời sống tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1990 đến nay. Những vấn đề này đang đặt ra cho chúng ta nhiều yêu cầu cần phải giải quyết.
 
Chính vì vậy, rất cần có sự tổng kết, đánh giá, nhìn nhận một cách khách quan những thành tựu, hạn chế, những chuyển biến quan trọng của đời sống tôn giáo ở Việt Nam trong vòng 30 năm qua, để từ đó có thể rút ra những bài học, đề ra những định hướng, dự báo nhằm xây dựng quan điểm, định hướng chính sách tôn giáo trong giai đoạn mới, phù hợp với tình hình, bối cảnh mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
 
Cuốn sách này dựa trên cơ sở nghiên cứu đời sống tôn giáo ở Việt Nam, nhất là những chuyển biến quan trọng trong đời sống tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1990 đến nay, chỉ ra những thành tựu, hạn chế của đời sống tôn giáo ở Việt Nam trong giai đoạn này, từ đó đưa ra dự báo xu hướng vận động của đời sống tôn giáo ở Việt Nam và khuyến nghị đối với các lĩnh vực nghiên cứu lý luận, xây dựng đường lối, chính sách, pháp luật về tôn giáo trong thời gian tới. Cụ thể hơn, cuốn sách sẽ tập trung làm rõ 3 nội dung chính:
 
Thứ nhất, chỉ ra những điều kiện, tiền đề cho sự chuyển biến của đời sống tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1990 đến nay.
 
Thứ hai, tổng kết, đánh giá những chuyển biến quan trọng của đời sống tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1990 đến nay (qua tiếp cận, phân tích trên ba phương diện niềm tin, thực hành và cộng đồng tôn giáo), chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế đó.
 
Thứ ba, dự báo xu hướng chuyển biến của đời sống tôn giáo ở Việt Nam và đề xuất khuyến nghị đối với lĩnh vực nghiên cứu lý luận và xây dựng chính sách pháp luật về tôn giáo trong thời gian tới.
 
Như chúng ta đã biết, đời sống tôn giáo là một khái niệm rất rộng, có thể hiểu bao gồm cả đời sống của các tôn giáo (Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Islam giáo, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, v.v...) và đời sống tín ngưỡng (thờ Mẫu, thờ Thành hoàng, thờ thần, v.v...); không chỉ là đời sống tôn giáo thuần túy mà còn bao gồm cả đời sống tôn giáo - xã hội. Do vậy, trong khuôn khổ cuốn sách này, chúng tôi tập trung phân tích nhiều hơn về phương diện những chuyển biến quan trọng của đời sống tôn giáo. Các tôn giáo được phân tích, đánh giá sẽ tập trung nhiều hơn vào một số tôn giáo lớn như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, v.v... nhưng chưa có điều kiện phân tích nhiều hơn về đời sống tín ngưỡng. Còn một số phương diện khác của đời sống tôn giáo chưa được đề cập nhiều trong công trình này, chúng tôi hy vọng sẽ được đề cập trong các công trình khác.
 
Cách tiếp cận chủ đạo của công trình là cách tiếp cận tôn giáo học và tiếp cận liên ngành - đa ngành Khoa học xã hội nhằm xác lập cách nhìn và phương pháp lý giải hữu hiệu nhất đối với đối tượng nghiên cứu - "Đời sống tôn giáo Việt Nam". Đây là một đối tượng (khách thể nghiên cứu) phức tạp, việc xác định nội hàm khái niệm “đời sống tôn giáo" phụ thuộc vào quan niệm, chỗ đứng và mục đích nghiên cứu của chủ thể thực hiện nghiên cứu, trong công trình này, “đời sống tôn giáo" được xác định có sự khác biệt với những trải nghiệm bên trong cá nhân một tín đồ hoặc một cộng đồng tôn giáo, nó cũng không phải là một đối tượng giả định được ghép lại bởi “các tôn giáo" đơn lẻ (như cách liệt kê thông thường về các tôn giáo đang hiện diện trong xã hội Việt Nam hiện nay).
 
Với cách tiếp cận tôn giáo học hiện đại, “Đời sống tôn giáo Việt Nam" được xác định như một chỉnh thể, nó được coi như một thực thể xã hội năng động, có thể tiếp cận lý giải ít nhất trên ba chiều kích chủ đạo: niềm tin tôn giáo, thực hành tôn giáo và cộng đồng tôn giáo. Với cách tiếp cận tôn giáo học, chúng tôi sẽ tập trung phân tích những chuyển biến quan trọng trong niềm tin, thực hành, cộng đồng tôn giáo ở Việt Nam hiện nay. Với cách tiếp cận tôn giáo học, việc tìm kiếm nguyên nhân của những chuyển biến của đời sống tôn giáo trước hết phải xem xét những yếu tố từ chính bản thân tôn giáo, từ giáo lý, giáo luật, từ thần học tôn giáo, v.v... sau đó mới đến những yếu tố ở bên ngoài tôn giáo. Cách lý giải này cũng có thể xem là cách lý giải từ bên trong, từ bản thân tôn giáo để lý giải những đặc điểm của đời sống tôn giáo.
 
Tiếp đến, ngoài cách tiếp cận tôn giáo học mang tính chất chủ đạo, tiếp cận xã hội học về tôn giáo cũng được áp dụng. Nghiên cứu đời sống tôn giáo ở Việt Nam không thể không sử dụng cách tiếp cận xã hội học để làm rõ mối quan hệ, ảnh hưởng của tôn giáo đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội. Cách tiếp cận này cũng giúp làm rõ những sự chuyển biến trong cấu trúc tôn giáo, từ niềm tin, thực hành đến cộng đồng của các tôn giáo, bên cạnh đó cũng luận giải sự gia tăng của tín đồ, sự thay đổi của nhân khẩu học tôn giáo và địa tôn giáo...; đồng thời, đưa ra được những đánh giá tương đối khái quát về các hoạt động xã hội của các tôn giáo như từ thiện, an sinh, y tế, giáo dục, v.v..
 
Bên cạnh đó là cách tiếp cận từ chính trị học về tôn giáo. Trong số các tiếp cận liên ngành của công trình này, thì tiếp cận chính trị học tôn giáo cũng được vận dụng nhằm lý giải mối quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo, hay mối quan hệ giữa chính trị với tôn giáo. Cụ thể hơn, cách tiếp cận này góp phần lý giải sự ra đời của các chính sách, pháp luật về tôn giáo trong mối quan hệ, mối tương quan giữa Nhà nước và tôn giáo, cũng như xem xét sự tác động của các chính sách của Nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức tôn giáo.
 
Nghiên cứu đời sống tôn giáo cũng không thể bỏ qua cách tiếp cận triết học về tôn giáo. Nghiên cứu đời sống tôn giáo Việt Nam trong một giai đoạn phát triển của đất nước gắn liền với những bối cảnh mới về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, hội nhập quốc tế, v.v... nên không thể bỏ qua cách tiếp cận triết học. Nếu như cách tiếp cận tôn giáo học lý giải những nguyên nhân của đời sống tôn giáo từ bên trong thì cách tiếp cận triết học góp phần lý giải những nguyên nhân dẫn đến những biến đổi đời sống tôn giáo từ bên ngoài.
 
Cuốn sách được chia làm 3 chương:
 
Chương 1: Đời sống tôn giáo và những điều kiện, tiền đề cho sự chuyển biến của đời sống tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1990 đến nay.
 
Chương 2: Những chuyển biến quan trọng của đời sống tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1990 đến nay.
 
Chương 3: Xu hướng chuyển biến của đời sống tôn giáo ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra.
 
Hy vọng cuốn sách sẽ góp thêm một tài liệu tham khảo hữu ích cho hoạt động nghiên cứu, học tập, giảng dạy về tôn giáo nói chung, về đời sống tôn giáo ở Việt Nam hiện nay nói riêng, nhất là những chuyển biến quan trọng của đời sống tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1990 đến nay. Mặc dù đã rất cố gắng, song cuốn sách chắc vẫn còn những hạn chế, thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận được sự trao đổi, góp ý chân thành của bạn đọc xa gần.
 
Hà Nội, ngày 4 tháng 10 năm 2021
 
Thay mặt các tác giả
 
Chủ biên
 
PGS.TS. Chu Văn Tuấn

 

Thông tin thêm

 

 

Thông tin sản phẩm

Số trang
370
Kích thước
14.5 x 20.5 cm
Lượt xem
91
Trọng lượng
500 gr

Nhận xét sản phẩm

Không tìm thấy nhận xét nào cho sản phẩm này
 

Viết nhận xét

Vui lòng đăng nhập để đăng nhận xét